mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay326
mod_vvisit_counterHôm Qua5966
mod_vvisit_counterTuần Này10921
mod_vvisit_counterTuần Trước56369
mod_vvisit_counterTháng Này197794
mod_vvisit_counterTháng Trước114752
mod_vvisit_counterTất cả7998192

We have: 101 guests online
Your IP: 54.147.232.40
 , 
Today: Mar 29, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



The News
VAN HOA VA GIA DINH # 142 = NHAC SI ANH BANG PDF Print E-mail

Nhạc sĩ Anh Bằng, một người Việt thương quê mình.


Cho đến khi nằm xuống, nhạc sĩ Anh Bằng vẫn còn những bài hát và dự án còn dang dở. Sức làm việc của ông thật đáng nể. Nhiều tổng kết cho rằng số lượng tác phẩm của ông để lại khoảng 650 bài, nhưng thực tế còn nhiều hơn như vậy, bởi gần mười năm đau yếu, ông vẫn không thôi sáng tác.
Nhạc sĩ Anh Bằng (1926-2015) viết rất nhiều thể loại, có lẽ vì vậy mà ông cũng là nhạc sĩ hiếm hoi trong lịch sử âm nhạc Việt Nam có rất nhiều bút danh. Bản tính hào sảng của ông cũng khiến cho gia tài âm nhạc của ông càng đồ sộ hơn, với hàng loạt các ca khúc sáng tác chung với nhạc sĩ Lê Dinh và Minh Kỳ – với tên chung là Lê Minh Bằng.
Năm 1975, khi nhạc sĩ Anh Bằng ra đi định cư ở Hoa Kỳ, dù lúc đó đã bước sang tuổi 50, nhưng ông vẫn sung sức trong sáng tác và đầy hoài bão trong việc dựng lại một cộng đồng sinh hoạt âm nhạc Việt ở xứ người. Công việc này lại suôn sẻ hơn, khi bà Thy Vân, con gái của ông Anh Bằng kết duyên với ông Bạch Đông, một người Việt ở Mỹ, một chuyên gia về âm thanh. Năm 1980, băng casette đầu tiên của Trung tâm Asia ra đời với các tác phẩm của Anh Bằng đã là một sự kiện của cộng đồng Việt Nam hải ngoại, vượt biên giới lan vào tận trong nước.
Trung tâm âm nhạc Asia dần dà trở thành một trong những chỗ dựa tinh thần quan trọng của người Việt xa quê hương. Với khuynh hướng thuần âm nhạc Việt Nam của nhạc sĩ Anh Bằng nhưng phát triển theo khuynh hướng công nghệ giải trí của Hollywood do ông Bạch Đông dẫn dắt, khiến Trung tâm Asia nhanh chóng trở thành một cái tên thân quen của các cộng đồng Việt không chỉ ở Mỹ mà còn ở Châu Âu, Úc... Vào thời điểm rực rỡ nhất của Asia, ít ai biết được rằng các tên tuổi của âm nhạc Mỹ cũng có mối quan hệ với trung tâm này, thông qua giám đốc điều hành là Bạch Đông. Thân thiết nhất, phải kể đến Richard Carpenter, ca sĩ – nhạc sĩ, và là người sáng lập nhóm Carpenter.
Một trong những sản phẩm được tuyển chọn bởi nhạc sĩ Anh Bằng, thành công đến mức bất ngờ – đến nay vẫn còn nghe lưu hành ở Việt Nam, là băng cassette Liên khúc Hoà tấu. Vào thập niên 80, ông Bạch Đông cho biết có đến hơn 200.000 băng cassette được phát hành và tạo một thành công đủ để mở đường cho sự lớn mạnh của Trung tâm Asia sau này. Tính đến hôm nay, kể cả cd và các bản chép không bản quyền, album này có thể đã vượt con số hàng triệu.
Giữa cuối thập niên 90, ông Bạch Đông rời Trung tâm Asia và chuyển sang sống, làm việc ở Thái Lan. Công việc được giao lại cho nhạc sĩ Trúc Hồ. Lúc này ông Anh Bằng cũng bắt đầu cũng vào giai đoạn sức khoẻ không được tốt, nên công việc chính do bà Thy Vân hoàn toàn kiểm soát. Tuy vậy khuynh hướng của trung tâm Asia vẫn là tâm nguyện của nhạc sĩ Anh Bằng: giữ gìn và phát triển dòng nhạc của miền Nam tự do trước năm 1975.
Đất Nga Sơn, Thanh Hoá thật sự kiêu hãnh với hai cái tên lớn trong văn học nghệ thuật Việt Nam: đó là nhà thơ Hữu Loan và nhạc sĩ Anh Bằng. Hữu Loan lớn hơn nhạc sĩ Anh Bằng 10 tuổi, nhưng cuộc đời của hai con người tài hoa này lại có nhiều nét tương đồng đến ngạc nhiên.
Nhà Thơ Hữu Loan khi bất đồng về việc thảm sát của chính quyền cộng sản trong chính sách cải cách ruộng đất, đã cứu cô con gái còn sống sót trong một gia đình tư sản từng giúp cho cách mạng và lên núi ẩn cư. Ông rời bỏ Hà Nội và chọn sống cô đơn để làm người tử tế. Nhạc sĩ Anh Bằng thì do gia đình bất đồng với những người cộng sản nên từng bị tuyên án tử hình, một người anh của nhạc sĩ cũng bị cộng sản thủ tiêu. 1954, khi ông Hữu Loan bỏ lên núi thì ông Anh Bằng cũng di cư vào Nam, để lại nơi chôn nhau cắt rốn những kỷ niệm tha thiết, được diễn tả trọn vẹn trong bài Nỗi lòng người đi. Toàn bộ lời bài hát, có hai câu để diễn đạt nỗi niềm của ông, rất dễ nhìn thấy là "Thăng Long ơi, năm tháng vẫn trôi giữa giòng đời, ngậm đắng nuốt cay nhiều rồi" và "Sài gòn ơi, mộng với tay cao hơn trời". Bất kỳ ai tinh ý cũng có thể nhìn thấy nỗi buồn của chàng thanh niên ra đi, mang theo chí lớn nhưng không thành, được hát lên như một tiếng thở dài cho thời thế.
Trong nửa thế kỷ, cả hai nhân vật tài hoa của Nga Sơn đã làm nên những huyền thoại cho riêng mình. Một người vạc tan đá núi tạc thành huyền thoại, một người viết nên những khúc ca, chồng chất nỗi buồn cao như núi.
Hai lần ra đi của nhạc sĩ Anh Bằng là hai chặng thời gian đầy biến cố của người Việt Nam. Bị cuốn vào thời cuộc và chìm trong mệnh nước nổi trôi, âm nhạc của ông cũng ngập trong nỗi buồn của riêng mình, của đời người.
Một trong những bài hát, có thể nói được hết cõi lòng của nhạc sĩ Anh Bằng, có lẽ là bài Cõi Buồn, phổ thơ của nhà thơ Phong Vũ. Nỗi tiếc nhớ bạn bè, tuổi thanh xuân và mọi ước nguyện còn dang dở đã dẫn đến cao trào với phần điệp khúc như niềm tuyệt vọng "Ta muốn kéo mặt trời lặn đàng Đông mọc đàng Tây. Ta muốn giam thời gian trong khám tù đày...". Bất kỳ ai, lúc này khi hát lên, cũng có thể cảm nhận hết sự cô đơn và muộn phiền của ông.
Giới âm nhạc chuyên nghiệp hay gọi tên nhạc sĩ Phạm Duy, Hoàng Thi Thơ, Anh Bằng, Lam Phương là tứ trụ của nền âm nhạc miền Nam Việt Nam. Tài năng, sự đa dạng về phong cách, nhạc thuật, tính khai phá... của những con người này dàn trãi gần như toàn bộ trên lịch sử âm nhạc miền Nam Việt Nam từ 1954-1975 và vẫn tiếp tục nối dài từ đó đến nay.
Nhạc sĩ Phạm Duy có bài Bà mẹ Gio Linh (1948) thì nối tiếp với tinh thần đó, nhạc sĩ Anh Bằng cũng có bài Chuyện Một Đêm (1968). Cả hai hai bài hát này vang vọng nỗi đau của người mẹ trong chiến tranh, khi đứng trước cái chết của con mình. Đi cùng với chính sử Việt Nam hiện đại, các tác phẩm này là một trong những phần bổ sung và thể hiện rõ nhất tâm tình, số phận con người Việt qua nội chiến, bên cạnh tập Ca khúc Da Vàng của Trịnh Công Sơn.
Đầu năm 2013, nhạc sĩ Anh Bằng gọi nhạc sĩ Việt Dzũng đến để bàn bạc việc ông muốn thực hiện một băng nhạc tranh đấu. Việc Trung Quốc cấm cản đường biển, tấn công ngư dân Việt, bức hại quê hương... khiến ông cũng muốn hành động. Cho nhạc sĩ Việt Dzũng nghe bài Giặc đến nhà, nhạc sĩ Anh Bằng nói rằng có thể ông sẽ không còn làm gì được nữa và muốn thực hiện một album như phần để lại, một di nguyện của một người yêu thương đất nước mình, dân tộc mình. Lúc đó, chân ông đã run, mắt ông đã mờ, tai ông không còn nghe rõ, có những cuộc trò chuyện phải viết ra trên giấy, nhưng ông nói mình đã viết nhiều bài hát tranh đấu như vậy. Tiếc thay, tháng 12/2013, nhạc sĩ Việt Dzũng qua đời, công việc còn đang dang dở cùng với lúc sức khoẻ của nhạc sĩ Anh Bằng ngày càng yếu hơn.
Như những bài hát đã viết, mang đầy lời hẹn và tiếc nhớ của mình, giấc mơ về lại quê hương của một người Việt tha hương mãi mãi còn dang dở, nhưng cuộc đời của ông thì lại quá đỗi trọn vẹn cho thế gian này, khi không ngừng cống hiến cho âm nhạc, cho con người Việt Nam. Khó mà biết được, ông ra đi thanh thản, hay ở cõi xa xôi nào đó, vẫn mơ về từng chiếc ghế đá, từng góc công viên, về những món nợ ân tình mà cuộc đẩy đưa khiến ông không bao giờ còn cơ hội để đáp đền.
nhacsituankhanh

-----------------------------

 
VAN HOA VA GIA DINH # 141= GIAO DUC CON CAI PDF Print E-mail

LÀM GÌ ĐỂ GIÁO DỤC CON CÁI?

Trần Mỹ Duyệt

"Làm gì để giáo dục cái?" Câu hỏi này đối với phần đông phụ huynh Việt Nam là làm sao tôi có thể bắt con tôi học làm bác sỹ, nha sỹ, dược sỹ, luật sỹ... và rất nhiều thứ sỹ. Nó mang một ẩn ý là con mình phải học hành, đỗ đạt, có bằng cấp để cha mẹ được nở mày, nở mặt, và con cái thì được giầu sang, phú qúi, có địa vị cao trong xã hội và ngay cả trong giáo hội. Rất ít phụ huynh khi nêu lên câu hỏi trên có ý nghĩ muốn tìm hiểu những phương pháp thực tiễn, tốt, và có hiệu quả của giáo dục hầu giúp cho con cái thành người trưởng thành, có tư cách, có đạo đức, sống xứng đáng với phẩm cách con người và giúp ích cho đời.

Nhận xét trên được thấy rõ nét trong những lần gặp gỡ, tâm sự, hoặc những buổi hội thảo về giáo dục, học đường, hoặc những liên quan trực tiếp đến vấn đề giáo dục gia đình. Đối với những phụ huynh quan tâm đến tương lai con cái theo nghĩa phải học thành tài, phải có địa vị, và giầu có thì những câu hỏi là làm sao giúp hoặc lo con họ được vào những trường danh tiếng, theo học những phân khoa mà sau khi tốt nghiệp sẽ làm một công việc nào đó ít nhất là có liên quan đến chữ "sỹ". Họ bắt con học, hối thúc con học, và nhiều khi cưỡng ép con học. Phải học thật giỏi, phải học thật nhiều. Học ở trường về, còn phải đi học kèm. Học chữ nghĩa chưa đủ, phải học đàn, học võ, học bơi, học vẽ... Những phụ huynh này cho rằng tất cả những cái đó sau này sẽ đem lại cho con họ những gì mà họ cho là danh giá nhất, giầu có nhất, sung sướng nhất. Đối với họ đó là giáo dục, là đầu tư cho tương lai con cái. Được như vậy, họ rất tự hào, hãnh diện và cho mình là những cha mẹ tốt, biết cách giáo dục, và lo cho con cái.

Đối với các phụ huynh trên sự thành đạt của con cái là chính (chín) , còn mặt mũi của họ là mười. Họ luôn luôn tự tâm niệm: "Con khôn nở mặt cha mẹ". Cái khôn hiểu ở đây là thành đạt, giầu có mặc dù cái khôn ấy giá trị thực của nó là bao nhiêu. Chính do những cái khôn thiếu chuyên môn, thiếu đạo đức ấy mà hậu quả đã có biết bao nhiêu trường hợp người này, người nọ phải vào tù oan, phải chết oan, hoặc phải mang thương tật suốt đời!...

Mặt khác cũng có rất nhiều phụ huynh khi nghĩ hoặc nói đến giáo dục con cái, là họ nghĩ ngay đến những đứa con đang làm họ nhức đầu. Những đứa con đang làm họ mất ngủ. Những đứa con mà họ không bao giờ muốn nhắc đến chúng trước mặt bạn bè, người thân. Và câu hỏi của họ là có cách nào, hoặc có "bửu bối" nào mà tâm lý hoặc giáo dục có thể giúp con họ không cãi trả họ, không giao du với bạn bè xấu, không hút sách, và trở lại trường, trở lại thánh đường, hội đường hay chùa chiền như những con chiên ngoan đạo. Và đối với những phụ huynh này việc con cái họ đừng làm cho họ nhức đầu là ưu tiên hàng đầu của giáo dục.

Như vậy, giáo dục đối với số đông phụ huynh Việt Nam là thôi thúc, cưỡng bức, và nhồi nhét con em theo cái nhìn và suy đoán của họ cho tương lai con cái: giỏi, ngoan, và dễ dậy. Họ không hề quan tâm đến việc con họ giỏi để làm gì, ngoan như thế nào, và dễ dậy là làm sao. Nó hoàn toàn khác với quan niệm và giáo dục của các phụ huynh Âu Mỹ. Người Hoa Kỳ tuy rất khuyến khích con cái trong vấn đề học vấn, nhưng không quan tâm và đòi hỏi con cái phải học ngành gì, học để sau này làm ông này, bà nọ. Họ chỉ khích lệ hoặc tán đồng sự lựa chọn của con cái. Theo họ, con cái có những khả năng và xu hướng phù hợp với lối sống, sự chọn lựa tương lai, và do đó, họ không mấy coi trọng mặt mũi, tiếng tăm, miễn sao con họ hài lòng và sống thoải mái với sự chọn lựa của mình. Trong câu truyện về nhà văn và luật sư Lan Cao mà tôi đã có dịp đọc và gần đây tình cờ tôi thấy bà xuất hiện trên một chương trình TV. Tôi nhớ lại, hồi còn trẻ chính bà cũng có những xung đột với thân phụ bà là đại tướng Cao Văn Viên. Ông muốn cho bà sau này làm bác sỹ, nhưng bà lại chọn nghề văn và học luật. Hiện tại cho thấy sự chọn lựa của bà là đúng, và bà đã trở thành một luật gia danh tiếng cũng như một nhà văn đang làm cho người Hoa Kỳ hiểu thêm về văn hoá và cả chiến tranh Việt Nam theo góc độ đúng của lịch sử.

Thật ra, giáo dục đúng nghĩa nhất vẫn là làm thế nào để hướng dẫn một em nhỏ lớn lên, phát triển và trưởng thành về tâm lý và tâm linh. Ý thức về cuộc sống, và sống để đem lại lợi ích cho đời, và làm đẹp chính cuộc đời mình. Đây là cách giáo dục mà phụ huynh cần phải nhắm tới. Ứng dụng thực hành, tức là cha mẹ phải hướng dẫn để con mình sau này làm nghề nghiệp gì, nắm giữ địa vị nào người con ấy vẫn sống trọn vẹn với ý thức công việc, nghề nghiệp và biết dùng những tài năng, sức khoẻ, thời giờ, tiền bạc để xây dựng tốt cho cuộc sống, giúp ích cho đời. Đó là giáo dục.

Trong khi đi tìm một ý nghĩa giáo dục như vậy, tôi đọc thấy mẫu gương của một gia đình quyền lực thuộc dòng họ Trudeau ở Canada. Là một thủ tướng, chính khách, trí thức, giáo sư, luật sư, nhà báo, và tác giả nhưng Ông Pierre Elliott Trudeau đã không tỏ ra hối thúc con mình phải chọn lựa bất cứ ngành nghề nào của Ông. Ngược lại, khi Justin Trudeau còn nhỏ ông đã gửi con ông đi học trường công và bằng xe bus chung với các học sinh khác. Justin Trudeau chỉ trở thành chính khách và làm thủ tướng theo gót chân cha mình sau khi đã trải qua đủ mọi thứ ngành nghề không mấy danh giá, nổi nang như nhà giáo, gác gian hộp đêm, nhà dìu dắt trượt snowboard.

Điểm nổi bật ở đây là bài học giáo dục mà ông Pierre đã dành cho con ông, đó là thái độ và lối sống tự lập, có đạo đức và tinh thần trách nhiệm. Ông Justin đã cho biết lề lối giáo dục của thân phụ ông như sau: Thời gian đó, ông lên 8 tuổi và biết có một người là đối thủ chính trị của cha ông. Để làm hài lòng cha ông, ông đã nói những lời diễu cợt về người ấy. Không ngờ cha ông đã nghiêm nét mặt, và nói với ông "đừng bao giờ tấn công cá nhân." Cha ông nói tiếp tục giải thích cho ông là chúng ta có thể hoàn toàn bất đồng ý kiến với một người nào đó, nhưng không vì vậy mà hạ giá họ. Không những thế, cha ông còn dắt tay ông đến và giới hiệu với người này. Bài học kinh nghiệm và chính trị đầu đời này đã cho ông một cái nhìn rõ ràng về người khác, dù người đó là người không đồng ý với mình, không đứng ở phía mình, không cùng chính kiến với mình, nhưng không có nghĩa là họ không đáng được tôn trọng.

Nhờ hưởng được nền giáo dục đứng nghĩa, đạo đức mà sau này thủ tướng Justin không những đã thành công, thành danh, và thành người nữa. Ông đã có thêm những phát biểu rất đáng cho các vị phụ huynh lưu tâm. Theo Ông có những người yêu ông, vì cha tôi, nhưng cũng có những người ghét ông vì cha ông. Nhưng riêng ông, ông đã học để mọi sự ra một bên, và hiểu là cả hai không phải là điểm tựa mà ông dùng để làm cái neo cho sự việc ông là ai và ông là cái gì?!

"Người cha khi nhắm mắt ông vẫn chưa chết. Vì con ông còn ở lại trên đời" (Huấn Ca 30:4). Bạn làm sao nhắm mắt được khi những đứa con mình còn đó đang hối lộ, tham lam, lợi dụng quyền thế, chức vụ để "vinh thân phì gia". Khi những đứa con của mình vì tiền tài, sắc dục, địa vị, giầu sang mà sẵn sàng "bán cả lương tâm!". Chắc chắn bạn vẫn không thể "chết" được!

Mời vào thăm trang nhà www.giadinhnazareth.org để tham khảo những bài vở hữu ích khác

---------------------------

 
VAN HOA VA GIA DINH # 140= MO PHAN CHA DAC LO PDF Print E-mail

MỘ PHẦN CHA ĐẮC LỘ.

https://www.facebook.com/photo.php?fbid=10205220619905934&set=a.1740299918182.98677.1559211848&type=3

Joe Nguyen

14 Tháng 11 2014

Sau 351 năm mới tìm thấy ngôi mộ người đã khai sinh ra những mẫu tự Việt Nam.

Kỷ niệm 354 năm qua đời của linh mục Alexandre de Rhodes.Sj (hay còn gọi là cha Đắc Lộ), Người đã khai sinh ra chữ Việt cho chúng ta đang sử dụng .

Xin cám ơn Người đã cho chúng ta biết được những mặt chữ tiếng Việt và từ đó chúng ta không còn lệ thuộc vào chữ viết của giặc Tàu nữa .

Tại Sài Gòn, con đường mang tên Alexandre de Rhodes nằm phía sau lưng Nhà Thờ Đức Bà, bên hông Nhà Văn Hóa Thanh Niên.

♦♦♦

Cha Đắc Lộ, một nhà truyền giáo vĩ đại của Giáo hội Công giáo Hoàn vũ nói chung và của Giáo hội Công giáo Việt Nam nói riêng, "Khi cho Việt Nam các mẫu tự La Tinh, Alexandre de Rhodes đã đưa Việt Nam đi trước đến 3 thế kỷ".

Năm 1651 khi chính thức xác định mẫu tự, bằng cách cho ra đời tại Roma nơi nhà in Vatican, quyển tự điển đầu tiên và các sách đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ, cha Đắc Lộ đã giải phóng nước Việt Nam khỏi nô lệ giặc Tàu .

Thật vậy, giống như Nhật Bản và Triều Tiên, người Việt Nam luôn luôn sử dụng chữ viết của người Tàu và bị nô lệ vì chữ viết này. Chỉ mới cách đây không lâu, người Triều Tiên mới chế biến ra một chữ viết riêng của họ. Còn người Nhật thì, sau nhiều lần thử nghiệm, đã phải bó tay và đành trở về với lối viết tượng hình biểu ý của người Tàu.

Trong khi đó, người Tàu của Mao Trạch Đông đang tìm cách dùng các mẫu tự La Tinh để chế biến ra chữ viết của mình, nhưng cho đến nay vẫn chưa thành công. Vậy mà dân tộc Việt Nam, nhờ công ơn của cha Đắc Lộ, đã tiến bộ trước người Tàu đến 3 thế kỷ.

♦♦♦

Với hy vọng có thể tìm được nơi linh mục trở về với cát bụi, chúng tôi, đoàn Việt Nam đang công tác tại Iran đã đến Isfahan – thành phố cổ cách Teheran 350 km về phía Nam. Đó là một ngày đầu năm 2011, một tuần sau lễ Giáng sinh.

Quảng trường Naghsh-i Jahan của Isfahan là một trong những quảng trường lớn nhất địa cầu với kiến trúc tiêu biểu Hồi giáo đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa nhân loại. Tại thành phố này, Alexandre de Rhodes đã sống những năm cuối đời. Mặc dù trước đó, phần đời chính của ông là ở Việt Nam.

Chúng tôi đến Isfahan vào một ngày mùa đông se lạnh nhưng tràn ánh nắng. Hỏi đường đến một nhà thờ Công giáo nào đó, chúng tôi được người dân chỉ dẫn tận tình. Điểm chúng tôi đến là nhà thờ Vank, nhà thờ thiên chúa lớn nhất Isfahan.

Qua giây phút ngạc nhiên trước đoàn khách Việt Nam, cha xứ nhà thờ nồng nhiệt đón tiếp chúng tôi hồ hởi. Trước nay, hiếm có du khách Á đông nào, nhất là từ Việt Nam xa xôi tới nơi đây. Ông nhiệt tình dẫn chúng tôi đi tham quan và nói về lịch sử nhà thờ.

Nằm trong thế giới Hồi giáo, nhà thờ có kiến trúc bề ngoài đặc trưng Hồi giáo, nhưng vào bên trong, với các tranh và tượng Thánh đầy ắp khắp các bức tường, cứ ngỡ như đang ở một nhà thờ nào đó ở Roma hay Paris.

Cha xứ càng ngạc nhiên hơn khi chúng tôi hỏi về giáo sĩ Alexandre de Rhodes – người đã mất cách đây hơn 350 năm. Nhà thờ Vank có một thư viện lớn, lưu trữ nhiều tư liệu quý giá. Cha xứ nói người vào thư viện tìm kiếm. Lát sau, một thanh niên to khỏe khệ nệ mang ra một cuốn sổ dày cộp, to chừng nửa cái bàn, bìa bọc da nâu ghi chép về các giáo sĩ đã làm việc và mất tại đây. Ngạc nhiên và vui mừng tột độ, cha và chúng tôi tìm thấy dòng chữ ghi Alexandre de Rhodes mất năm 1660.

Như vậy, không nghi ngờ gì nữa, chính tại nhà thờ Vank này, cha Đắc Lộ đã sống và làm việc những năm cuối đời. Chúng tôi hỏi:

"Thưa cha, liệu có thể tìm thấy mộ của Alexandre de Rhodes ở đâu không?".

Cha xứ tận tình chỉ đường cho đoàn khách đặc biệt tới Nghĩa trang Công giáo ở ngoại ô thành phố.

Nghĩa trang nằm dưới chân đồi. Các ngôi mộ nằm êm mát dưới tán rừng thông, tùng, bách mênh mông, vắng lặng. Lạ một điều, nghĩa trang Công giáo nhưng không thấy một cây thánh giá nào.

Chia nhau đi các ngả tìm kiếm, lần mò hồi lâu, chúng tôi reo lên khi thấy ngôi mộ có ghi rõ tên Alexandre de Rhodes. Mộ ông nằm bên cạnh hai ngôi mộ khác thành một cụm ba ngôi. Gọi là mộ, nhưng không đắp nổi như ở Việt Nam. Đó chỉ là tảng đá lớn nằm nghiêng nửa chìm, nửa nổi trên mặt đất. Dù đã trải qua mưa nắng, biến động cuộc đời hơn ba thế kỷ, chữ khắc trên tảng đá còn khá rõ nét.

Trong ánh nắng ban trưa, chúng tôi kính cẩn nghiêng mình trước ngôi mộ, ai cũng thấy dâng lên trong lòng mình những cảm xúc bâng khuâng khó tả.

♦♦♦

Cha Đắc Lộ sinh ngày 15/3/1591 ở Avignon (Pháp). Ông là nhà truyền giáo Dòng Tên. Ông đến Hội An (Việt Nam) đầu năm 1625, khi 34 tuổi, đi suốt Bắc - Nam truyền đạo và chỉ rời Việt Nam khi bị nhà Nguyễn trục xuất vĩnh viễn vào năm 1645.

Trong 20 năm ở đất Việt, ông đã có công tổng hợp, chỉnh lý những công trình của các giáo sĩ trước đó để hình thành chữ quốc ngữ Việt Nam hiện đại với tác phẩm "Tự điển Việt-Bồ-La" in năm 1651 tại Roma -Cuốn sách hệ thống hóa cách ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự La tinh. Cha Đắc Lộ còn để lại cuốn Phép giảng tám ngày - tác phẩm văn xuôi đầu tiên viết bằng chữ Quốc ngữ, phản ảnh văn ngữ và cách phát âm của người Việt thế kỷ 17.

Joe Nguyên tổng hợp từ các tư liệu

----------------------------

 
VAN HOA VA GIA DINH # 139 = NHAN NHIN-NHUC-QUAN TU PDF Print E-mail

Thanh Nguyen
Nov 28 at 7:56 PM.

Nhẫn nhịn... nhục...quân tử : "CHỊU THIỆT LÀ ĐƯỢC RỒI"

NHẪN NHỊN... NHỤC...QUÂN TỬ* Cách người xưa phân biệt người quân tử và kẻ tiểu nhân ***Đó là : CHỊU NHẬN  PHẦN THIỆT  - TRANH GIÀNH QUYỀN LỢI

Ngụy Hi – người được xưng là "Thanh sơ tam đại gia" (một trong ba nhà văn lớn hàng đầu của triều đại nhà Thanh) đã từng nói:

"Ta không hiểu biết như thế nào là người quân tử, nhưng nhìn vào khả năng "chịu nhận phần thiệt" trong mỗi sự việc của người ấy là sẽ biết. Ta không biết được như thế nào là kẻ tiểu nhân, nhưng nhìn vào việc "tranh giành phần lợi" của người ấy là sẽ biết."

Suy ngẫm kỹ càng, thật đúng nó là quanh co như vậy. Có thể chịu thiệt quả là không phải một việc dễ dàng. Cần phải có tấm lòng khoan dung, độ lượng lớn mới có thể chịu thiệt thòi một cách cam tâm tình nguyện. Tiêu biểu là phải khoan dung độ lượng, chịu nhẫn nhục, co được giãn được (tức là biết ứng phó thích hợp với tình hình cụ thể) thì chính là một quân tử. Chẳng trách mà người xưa dùng tiêu chuẩn "có hay không có khả năng chịu thiệt" là yếu tố đầu tiên để nhận biết người quân tử và kẻ tiểu nhân.

Ngày xưa, có một vị thượng thư tên Lâm Thoái Trai, ông ta phúc đức rất nhiều, con cháu đầy đàn. Lúc ông ta sắp lâm chung, con cháu quỳ gối trước mặt ông xin thỉnh cầu lời giáo huấn. Lâm Thoái Trai nói: "Ta không có lời nào khác, chỉ khuyên bảo các con học "chịu thiệt" là được rồi".

Những người già Trung Quốc cũng thường hay nói "chịu thiệt là phúc", bởi vì họ biết rõ "Phúc, Lộc, Thọ" ở thế gian con người đều là đổi từ đức mà ra, mà chịu thiệt lại có thể tích đức. Xưa nay, rất nhiều anh hùng, cũng đều do có thể chịu nhịn nhục, chịu thiệt mà làm nên đại sự. Nổi danh nhất chính là Hàn Tín có thể chịu nhục chui háng, có thể nói đó là "chịu thiệt" đến cực điểm, bởi vậy sau này Hàn Tín đăng đàn bái tướng, được Lưu Bang phong làm Tam Tề Vương.
Trái lại, nếu như luôn luôn khiến cho người khác phải chịu hại chịu thiệt, như thế thì người này chẳng phải là mất đức rồi sao? Làm nhiều việc xấu còn bị trời trừng phạt, thật sự là cái được không bù nổi cái mất.

Nếu gặp người nóng tánh
Hãy nhẹ nhàng nhìn thôi
không cần phải lẩn tránh
Chưa hỏi đừng hé môi

Nếu gặp người giả dối
Hãy nhẹ nhàng chia tay
Lặng lẽ không cần nói
Ngọt ngào đừng mê say

Nếu gặp người hay giận
Hãy nhẹ nhàng mỉm cười
Giao tiếp luôn cẩn thận
Để người được vui tươi

Nếu gặp điều trái ý
Hãy nhẹ nhàng tìm ra
Nguyên nhân của sự lý
Đừng vội trách người ta

Nếu gặp điều cay đắng
Hãy nhẹ nhàng đừng sân
Dù tình đời bạc trắng
Tất cả có nguyên nhân

Nếu gặp điều đau khổ
Hãy nhẹ nhàng vươn lên
Đừng chùn bước tại chỗ
Lấy khổ đau làm nền

Nếu gặp điều bất hạnh
Hãy nhẹ nhàng đi qua
Không cần phải trốn tránh
Chuyện nhỏ cõi ta bà
.

Vô Danh

-----------------------------

 
VAN HOA VA GIA DINH # 138 = CHUYEN XUA TICH CU PDF Print E-mail

Quang X. Dinh chuyển
Nov 24 at 10:55 AM

Chuyện Xưa Tích Củ
Sơn Nam & Tô Nguyệt Đình

MỤC LỤC [−]

Ông Khổng Lồ đúc chuông
Cây mắc cỡ
Người chồng bất nghĩa
Con trâu bay
Ông địa làng Bình Sùng
Người vợ bé tài đức
Săn chuột
Núi Thị Vãi
Vì con gà mà giết mẹ
Ma Thần Vòng
Con ong và con tu hú
Người chết trả nợ cũ
Cọp thổi sừng trâu
Chùa Thầy Thiếm ở Núi Sập
Thương nước thương dân
Lộc Giác Chơn Nhơn
Tham thì thâm
Bà Kiêm Giao
Cây Kỳ Nam
Nhân tài của làng Ông Văn
Cụ Đồ Chiểu giả điếc
Ông Tăng Chủ nuôi cọp bạch
Tích Bà Đen ở núi Tây Ninh
Con gián, con nhền nhện
Con vạc ăn đêm
Theo thơ vận từ thứ
Công chúa Mai Châu
Hoàng hậu Tàu ở Việt Nam
Xã Định kiện Bà Cố
Ma rừng
Bài thơ Chợ Quán
Truyện Nghĩa Hổ
Người rừng
Đứa con thần
Lọt sổ Diêm đình
Người chết trả ơn
Vợ khôn chồng dại
Chồng giết vợ
Con dơi
Bộ râu còi
Ông vua heo
Thằng làm biếng gặp thời
Thần linh phò hộ
Con ngỗng có mồng trắng
Sao Hôm Sao Mai
La Sơn Phu Tử
Bão lụt năm Thìn
Cô hồn đền ơn
Bông Thủy Tiên
Ông Thần xã Đình Lập
Con thỏ, con chim nắc nước, con muỗi
Rụng lông vịt
Hai ông quan thanh liêm
Ăn mày xin vàng
Anh bán vải
Tích con chim Hít Cô
Tích chùa Long Giáng
Ông Vu Công trừ tà
Con cọp và cậu học trò
Tên trộm vịt
Chuyện Thầy Thím
Nữ anh hùng Bùi Thị Xuân
Ăn trầu ngắt đuôi
Kép Hứa Văn Hát Bội
Thần Phạm Nhĩ hóa ra cọp
Tích cây nhơn sâm
Rắn già rắn lột
Ông Huỳnh Mẫn Đạt
Con cá nược
Sự tích cá he hay cá nược
Chó mực, ngựa ô
Vần thơ yêu nước
Núi Yên Tử ở Hải Dương
Ông Nguyễn Mại xử án
Thần đồng đầu thai
Ông tiên sư làm nghề lọng
Tích về cái yên ngựa
Vương Thập xuống âm phủ
Anh em họ Trương
Thằng Cuội, Cây Đa
Cá hóa long
Tích con rệp
Cái chuông, cái trống, cái mõ
Kiếm Bạc Kiên Giang
Thập Bát La Hán
Sự tích Vũng Tàu
Hổ huyệt
Đứa con ăn mày
Chợ Mảnh Ma Nam Định
Bà Châu Thị Phú
Giai ngẫu tự nhiên thành
Ác báo
Con rắn thần
Ma chó
Ông thầy tiên tri
Tiên hóa thành ... trâu
Đôi sam
Cọp được phong thần
Loài khỉ chai đít
Con kiến vàng
Cô gái nhà giàu hóa thành con muỗi
Rắn và rùa
Tại sao nước biển mặn
Mẹ gà con vịt
Hầm vàng, hầm bạc
Kiếp con tằm
Sự tích trái thơm
Tại sao con voi có vòi
Cái bình voi
Thần chết và thần sống đánh cờ
Ông trạng lấy rùa
Nàng chuột trinh tiết
Gió biết tương tư

Ba anh dốt làm thơ
Con chó đá
Giết chó khuyên chồng
Người con chí hiếu
Sinh con rồi mới sinh cha
Anh khờ đi buôn
Ba phần gia tài
Chim bắt cô trói cột
Cứu vật - vật trả ơn, cứu nhân - nhân trả oán
Cái chân vịt
Tích chim đa đa
Cua, rùa, cá đuối
Tích trái sầu riêng
Ông tiến sĩ mọc lông dê
Con mèo của Cống Quỳnh
Chữ Đồng Tử
Bầy thiêu thân
Trái dưa hấu
Chuyện quạ sói đầu
Ông trạng mười hai tuổi
Chim chèo bẻo
Trạng Trình
Cây khế bằng vàng
Sự tích chùa Một Cột
Thằng Lía
Sự tích Hòn Vọng Phu
Người thiếu phụ Nam Xương
Cây đa bến cũ
Truyện người lấy cóc
Cái cân và cục máu
Thần núi Tản Viên
Kẻ trộm thành Phật
Con rùa vàng
Tích cái ống nhổ
Bà Huyện Thủy Đường
Cây tre trăm mắt
Ông quan tuổi tý và con chuột bằng vàng
Truyện con chó đá
Tại sao cọp ghét mèo
Sóng thần ở Phá Tam Giang
Anh đánh cá và công chúa Thủy Tề
Nhà sư và con cá kình
Chuyện cá trê và con cóc
Từ Thức gặp tiên
Tích Nguyệt Lão tơ hồng
Sự tích Tháp Bà
Chuyện Thương Công Lê Văn Duyệt chém Lãnh Tạo
Chuyện ông Cống Quỳnh
Tích cây mía và lễ chiêu hồn
Viên ngọc quạ
Cọp hút á phiện
Anh cả và anh hai
Ông Cọp đình Tân Kiểng
Ông Nguyễn Chất
Bãi Ông Nam ở Cà Mau
Sự tích Bà Mã Châu
Đức hạnh của bà Thái Hậu Từ Dũ
Chàng rễ khờ
Cọp không biết trèo cây
Mãng xà vương ở Tân Bằng
Tiếng hát của Hà Ô Lôi
Mạnh mẫu dạy con
Truyện Phù Đổng Thiên Vương
Thầy pháp sợ ma
Dốt đặc hơn chữ lỏng
Muôn sự của chung
Con bạch trĩ
Sự tích cây phướng
Quẻ tử vi tốt xấu
Lý Ông Trọng đánh giặc Hung Nô
Người bán dầu
Tích ông Bổn
Ông Thổ địa Đằng Châu
Truyện Phạm Tử Hư
Sự Tích Mả Ngụy
Truyện Ngọc Vân công chúa
Người cõi trần xuống thăm địa ngục
Hoàng đế bán hành
Ông tổ nghề in là ai?
Trạng Bùng, ông tổ nghề dệt Việt Nam
Chuyện Phật Thích Ca và sự tích cây Nêu
Ông Hoàng Tử Cam
Huyền Trân công chúa và hai châu Ô, Lý
Sự tích cây pháo
Sự tích bông thủy tiên
Truyện hai con ngỗng chung tình
Hồn Trương Hoa, ma hàng thịt
Ông Cống Quỳnh tiếp vua và sứ Tàu
Người ăn khỏe nhất nước Nam
Con thằng mõ làm quan trạng
Cao nhân tất hữu cao nhân trị
Truyện công chúa Liễu Hạnh
Truyện thằng trời đánh
Vì cười mà chết
Sự tích chùa Thủ Huồn
Ông tổ làm da ở Việt Nam
Truyện kho vàng ở tỉnh Sơn Tây
Người hóa thành chim
Chuyện ni cô Tuệ Không
Mài dao dạy vợ
Núi Hàm Rồng ở Thanh Hóa
Voi tập trận
Đầm Tôm ở Thanh Hóa
Hiền Vương giết người đẹp
Con Trĩ, loài chim quý của Việt Nam
Con tôm đền ơn
Người khuất mặt ở rừng U Minh
Gương vỡ lại lành
Người đàn bà ghen tuông
Đạo sĩ núi Na
Cá thần và cá ma
Con ranh, con lộn
Quỷ thần bất trắc

------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 6 of 23