mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay14485
mod_vvisit_counterHôm Qua6859
mod_vvisit_counterTuần Này41861
mod_vvisit_counterTuần Trước45907
mod_vvisit_counterTháng Này213617
mod_vvisit_counterTháng Trước192249
mod_vvisit_counterTất cả8450168

We have: 130 guests online
Your IP: 54.80.16.75
 , 
Today: May 25, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



The News
VAN HOA VA GIA DINH # 144 = NGAY HOA BINH THE GIOI PDF Print E-mail

ĐHY Peter Turkson, Chủ tịch Hội Đồng Toà Thánh Công Lý và Hoà Bình họp báo giới thiệu sứ điệp Ngày Hoà Bình Thế Giới 2016
15/12/2015 16:07

Nội dung cuộc họp báo giới thiệu Sứ điệp Ngày hoà bình thế giới của ĐTC Phanxicô

Sáng 15-12 ĐHY Peter Turkson, Chủ tịch Hội Đồng Toà Thánh Công Lý và Hoà Bình, đã mở cuộc họp báo giới thiệu sứ điệp ĐTC Phanxicô gửi nhân Ngày Hoà Bình Thế Giới mùng 1 tháng giêng năm 2016. Sứ điệp có đề tài là "Chiến thắng dửng dưng và chinh phục hoà bình". Cùng hiện diện và phát biểu trong cuộc họp báo có bà Flaminia Giovanelli, phó thư ký và ông Vittorio Alberti, nhân viên của Hội Đồng.

Sau khi chào các nhà báo ĐHY Turkson nói sứ điệp của ĐTC bắt đầu với việc nhận xét rằng sự thờ ơ là thái độ chung của con người thời đại chúng ta. Sự dửng dưng ấy đã vượt qua lãnh vực cá nhân để trở thành toàn cầu. Tiếp đến sứ điệp kể ra vài hình thái của sự dửng dưng thời đại. Trước hết là dửng dưng đối với Thiên Chúa, từ đó nảy sinh ra thái độ dửng dưng đối với tha nhân và thụ tạo. Và ĐTC nhấn mạnh rằng đây là một trong những hậu quả nghiêm trọng nhất của một thuyết nhân bản sai lạc và của chủ thuyết duy vật thực tiễn, trộn lẫn với một tư tưởng duy tương đối và hư vô. Con người nghĩ rằng nó là tác giả của chính nó, của sự sống của nó và của xã hội. Nó cảm thấy tự đủ và không chỉ nhắm thay thế Thiên Chúa, mà còn sống không cần Thiên Chúa nữa. Hậu quả là nó nghĩ rằng nó không nợ ai cái gì hết ngoại trừ chính nó, và nó yêu sách chỉ có các quyền lợi thôi (s. 3).

Sau khi chứng minh cho thấy hòa bình bị đe dọa bởi sự thờ ơ trên tất cả mọi bình diện cuộc sống như thế nào, sứ điệp cống hiến một suy tư kinh thánh thần học cho phép hiểu sự cần thiết phải thắng vượt sự thờ ơ để rộng mở cho sự cảm thông, lòng thương xót, sự dấn thân và như thế cho tình liên đới.

Tình liên đới được định nghĩa như là một nhân đức luân lý và một thái độ mà những người có trách nhiệm giáo dục và đào tạo, như các gia đình, các nhà giáo dục và đào tạo, các nhân viên văn hóa và truyền thông xã hội được mời gọi vun trồng, mỗi người theo các vai trò và trách nhiệm riêng của mình.

ĐHY Turkson nói tiếp trong cuộc họp báo giới thiệu sứ điệp của ĐTC cho Ngày Hoà Bình Thế Giới 2016: Tin tưởng nơi khả năng của con người có thể chiến thắng sự dữ với sự thiện, sứ điệp chỉ cho thấy trong xã hội chúng ta có nhiều hình thái liên đới khác nhau, và sự dấn thân đáng ca ngợi trong việc trợ giúp những người gặp khó khăn như các nạn nhân của các xung đột vũ trang và các thiên tai, người nghèo và người di cư. ĐTC cũng nhân dịp này cám ơn và khích lệ tất cả những ai dấn thân trong các hành động loại này, cả khi họ không được quảng cáo, một cách đặc biệt tất cả những người, các gia đình, các giáo xứ, các cộng đoàn dòng tu, các đan viện và các trung tâm hành hương đã mau mắn đáp trả lời ngài kêu gọi tiếp nhận một gia đình tỵ nạn (s. 7).

Sứ điệp của ĐTC kết thúc với lời kêu gọi từng người trong tinh thần của Năm Thánh Lòng Thương Xót, dấn thân một cách cụ thể, để góp phần cải thiện thực tại trong đó họ đang sống, bắt đầu từ gia đình mình, từ hàng xóm láng giềng hay từ môi trường làm việc của mình.

ĐTC cũng đưa ra lời kêu gọi tương tự đối với các vị hữu trách của các quốc gia, để họ có các cử thỉ cụ thể, nếu không nói là các cử chỉ can đảm đích thật, đối với những người yếu đuối nhất trong xã hội của họ như các tù nhân, người di cư, người thất nghiệp và người đau yếu. ĐTC cũng mời gọi giới lãnh đạo các quốc gia có cái nhìn vượt xa hơn ranh giới nước mình để canh tân các tương quan của họ với các dân tộc khác, cho phép tất cả mọi người được tham dự thực sự và bao gồm vào cuộc sống cộng đồng quốc tế, hầu thực hiện tình huynh đệ cả bên trong gia đình các quốc gia với một lời mời gọi gồm ba điểm: thứ nhất, đừng lôi cuốn các dân tộc khác vào các xung khắc hay chiến tranh; thứ hai, xoá bỏ nợ nần quốc tế cho các nước nghèo hơn và tạo thuận tiện cho một việc quản trị có thể chịu đựng nổi; và thứ ba, áp dụng các đường lối chính trị cộng tác tôn trọng các giá trị của các dân tộc địa phương, và không làm tổn hại quyền của các trẻ em được sinh vào cuộc sống.

Không chỉ có sự dửng dưng là trọng tâm của sứ điệp năm 2016 nhưng còn có niềm hy vọng nơi khả năng của con người, với ơn thánh của Thiên Chúa, có thể vượt thắng sự dữ và không để cho mình rơi vào thái độ chịu trận và thờ ơ (s. 2), bằng cách góp phần vào việc sống hòa bình với Thiên Chúa, với tha nhân và với thụ tạo. Điều này được chứng minh bởi vài biến cố của năm 2015 diễn tả khả năng của nhân loại hoạt động cho tình liên đới, vượt ngoài các lợi lộc duy cá nhân, vô cảm và thờ ơ đối với các tình trạng nguy hiểm. ĐTC muốn nói tới hội nghị quốc tế COP 21 về các thay đổi khí hậu, hội nghị thượng đỉnh tại Addis Abeba để gây quỹ cho việc phát triển có thể chịu đựng nổi của thế giới, cũng như Lịch trình hành động 2030 tìm các giải pháp bảo đảm cho mọi người có một cuộc sống xứng đáng hơn với nhân phẩm, và 50 năm kỷ niệm việc công bố hai tài liệu quan trọng của Công Đồng Chung Vaticăng II là "Nostra aetate" và "Gaudium et Spes", là hai tài liệu đã mở cửa cho việc đối thoại với các tôn giáo không kitô và toàn gia đình nhân loại.

Để giữ gìn niềm hy vọng này ĐTC nhấn mạnh rằng cả chúng ta nữa cũng được mời gọi khiến cho tình yêu, sự cảm thông, lòng thương xót và tình liên đới biến thành một chương trình đích thật của cuộc sống, một kiểu hành xử trong các tương quan với nhau (s. 5) nghĩa là thương xót như Thiên Chúa Cha (x. Lc 6,36).

Trong phần phát biểu của mình bà Flaminia Giovannelli, phó thư ký Hội Đồng Tòa Thánh Công Lý và Hoà Bình, nêu bật vài yếu tố của sứ điệp tiếp nối huấn quyền của Đức Phanxicô, của Đức nguyên Giáo Hoàng Biển Đức XVI và của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.

Ngay từ đầu triều đại của ngài ĐTC Phanxicô đã có các cử chỉ và lời nói lay động lương tâm con người ngày nay. Cử chỉ thứ nhất đầy ý nghĩa là chuyến viếng thăm người di cư tỵ nạn trên đảo Lampedusa. Ngài đã cảnh báo các bọt xà phòng mà nền văn hóa tiện nghi dễ dãi ngày nay khiến cho con người sống, và làm cho nó trở thành vô cảm đối với các khổ đau của người khác và dẫn đưa tới việc toàn cầu hóa dửng dưng.

Sứ điệp tiếp nối sứ điệp cho Ngày Hoà Bình Thế Giới 2015 với đề tài "Không là nô lệ nữa nhưng là anh em". ĐTC thức tỉnh lương tâm mọi người đối với sự kiện kỷ nguyên hiện nay tiến bộ trên mọi lãnh vực khoa học kỹ thuật nhưng bên dưới có hiện tượng nô lệ. Ngài viết: "Khi quan sát hiện tượng buôn người, buôn người di cư và các gương mặt quen biết hay không quen biết khác của nô lệ, người ta thường có cảm tưởng nó xảy ra trong sự thờ ơ chung" (s. 5). Có một mặt trận khác mà ĐTC nhiều lần đề cập tới, nhất là sau khi công bố Thông điệp "Laudato si'", đó là các hậu qủa do sự thờ ơ của con người trên môi sinh. Sự kiện con người dửng dưng không săn sóc môi sinh gây ra các hậu quả trầm trọng. Ngài viết: "Rất tiếc nhiều cố gắng tìm các giải pháp cụ thể cho cuộc khủng hoảng môi sinh thường bị tước đoạt không phải chỉ vì sự khước từ của các cường quốc, nhưng cũng vì sự dửng dưng của những nước khác. Các thái độ ngăn cản các con đường giải pháp cả giữa các tín hữu nữa đi từ sự khước từ vấn đề cho tới sự thờ ơ, chịu trận thoải mái, hay tin tưởng mù quáng vào các giải pháp kỹ thuật" (Laudato si s. 14).

Sau cùng sứ điệp Ngày Hoà Bình Thế Giới năm 2016 cũng tiếp tục sứ điệp Mùa Chay năm 2015 tựa đề "Hãy khích lệ con tim anh em". Trong đó ĐTC Phanxicô tố cáo thái độ sống ích kỷ và cuộc sống thoải mái khiến cho con người ngày nay thờ ơ, lãng quên những người không có cuộc sống an lành như họ.

Sứ điệp của Đức Phanxicô cũng tiếp nối giáo huấn của ĐTC Biển Đức XVI. Trong Thông điệp "Bác ái trong Chân lý" Đức nguyên giáo hoàng khẳng định rằng "vấn đề xã hội một cách triệt để đã trở thành vấn đề nhân chủng học" (CV, 75), vì thế "đôi khi con người tân tiến xác tín một cách sai lầm rằng nó là tác giả duy nhất của chính mình, của cuộc sống của nó và của xã hội" (CV, 34). ĐTC Phanxicô đã nhận ra nguồn gốc của thái độ thờ ơ này của con người: đó là sự dửng dưng đối với Thiên Chúa và đối với tha nhân. Ngài viết :" Hình thái dửng dưng đầu tiên trong xã hội con người là sự dửng dưng đối với Thiên Chúa, từ đó nảy sinh ra thái độ dửng dưng đối với tha nhân và thụ tạo. Và đây là một trong những hậu quả nghiêm trọng nhất của một thuyết nhân bản sai lạc và của chủ thuyết duy vật thực tiễn, trộn lẫn với một tư tưởng duy tương đối và hư vô."

Hai vị cũng gặp nhau liên quan tới hiện tượng toàn cầu hóa thờ ơ đe đọa hoà bình. Sự dửng dưng đối với Thiên Chúa vượt qúa lãnh vực nội tâm và tinh thần của cá nhân và xâm lấn lãnh vực công cộng và xã hội. ĐTC Biển Đức XVI khẳng định rằng: "Có một tương quan mật thiết giữa việc vinh danh Thiên Chúa và hoà bình của con người trên trái đất". "Không có sự rộng mở cho siêu việt, con người dễ dàng trở thành mồi cho chủ thuyết tương đối hóa và khó mà hành động theo công lý và dấn thân cho hòa bình" (s. 4).

Giáo huấn của ĐTC Phanxicô cũng tiếp nối các tư tưởng của Thánh Gioan Phaolô II. Trong sứ điệp cho Ngày Hoà Bình Thế Giới năm 1982 tựa đề: "Hoà bình, món quà Thiên Chúa ủy thác cho con người", Đức Gioan Phaolô II viết: "Kitô hữu biết rằng trên trái đất một xã hội loài người hoàn toàn và luôn mãi hòa bình, rất tiếc là một ảo tưởng, và các ý thức hệ phản ánh nó như thể là điều có thể đạt cách dễ dàng, dưỡng nuôi các niềm hy vọng không thể thực hiện được ... tuy xác tín – nếu không phải là đã sống kinh nghiệm đớn đau – xác tín rằng các niềm hy vọng dối trá ấy dẫn đưa trực tiếp tới nền hoà bình giả tạo của các chế độ độc tài. Nhưng việc ghi nhận thực tế này không ngăn cản các kitô hữu khỏi dấn thần cho hoà bình; trái lại nó kích thích nhiệt tình của họ".

ĐTC Phanxicô đã đề nghị hai thái độ sống giúp đánh bại sự thờ ơ: đó là vun trồng nền văn hóa liên đới và lòng thương xót. Đây cũng là hai đề tài Đức Gioan Phaolô II yêu thích và trình bầy trong Thông điệp "Lo lắng cho các vấn đề xã hội". Cần phải dấn thân cho công ích và có trách nhiệm đối với tất cả mọi người (s. 5). Sống lòng thương xót cũng là điều đạt tột đỉnh với Thông điệp "Thiên Chúa giầu lòng thương xót" của Đức Gioan Phaolô II.

Sau cùng sứ điệp cho Ngày Hoà Bình Thế Giới năm 2002, công bố ba tháng sau vụ khủng bố hai tháp song sinh bên Hoa Kỳ, mở đầu với việc nhắc tới biến cố thê thảm này, và có tựa đề là "Không có hoà bình không công lý, không có hoà bình không tha thứ". ĐTC Phanxicô cũng nhắc tới các chiến tranh bạo lực gieo vãi chết chóc và tàn phá trong các tháng qua và kêu gọi mọi người dấn thân cải tiến tình hình thế giới trong Năm Thánh Lòng Thương Xót này một cách cụ thể.

Trong phần phát biểu của mình ông Vittorio Alberti đã nêu bật một số từ chìa khóa ĐTC dùng trong sứ điệp: hoà bình là một chiến thắng và là một chinh phục. Cần có sự hoán cải nội tâm. Có một vẻ đẹp trong tiến trình giải thoát. Sự thờ ơ lan tràn trong lãnh vực công cộng chính trị cũng như văn hóa. ĐTC gọi đó là sự thối nát và định nghĩa nó là bệnh ung thư xã hội. Hồi còn là Hồng Y ngài gọi nó là sự mệt mỏi của siêu việt, chịu trận, gập mình xuống trong cái riêng tư của mình. "Sự thối nát ngọt như đường, chúng ta quen mùi vị của nó nhưng coi chừng bị bệnh tiểu đường." Ngài cảnh báo giới trẻ bên Phi châu và ngài kêu gọi họ đừng để cho mình bị hư thối. Nếu bạn không bắt đầu, thì sẽ không có ai bắt đầu cả. Người thối nát không sống trong bình an. Sự thối nát là con đường của cái chết".

Trong sứ điệp cho Ngày Hoà Bình Thế Giới còn có nhiều từ chìa khóa khác như: khả năng của con người, vô cảm, không dấn thân và khép kín, dấn thân cụ thể đế góp phần vào với người khác nhằm cải thiện thực tại, cải tiến thế giới.

Tuy nhiên cần phải tin rằng có một tương lai và ý nghĩa của các sự vật để có sức mạnh dấn thân chống lại sự thối nát và chiến thắng sự thờ ơ. Cần chữa trị bệnh thờ ơ với lòng thương xót. Lòng thương xót không phải chỉ là một sự kiện luân lý nhưng cũng là sự kiện tâm trí và thông minh nữa. Nó là sự tự do tư tưởng. Cuộc khủng hoảng trên thế giới hiện nay cũng là cuộc khủng hoảng văn hóa, vì thế mọi tác nhân của thế giới văn hóa đều phải cùng nhau dấn thân: giáo dục là kéo ra ngoài, đào tạo là đem vào trong. Cần phải dào tạo lương tâm con người trong sự tự do, bắt đầu bằng vẻ đẹp của các lý lẽ tự do như trình bầy trong các tài liệu của Công Đồng Chung Vaticăng II. Việc chống lại sự thờ ơ và thối nát đi ngang qua ngã này.

Linh Tiến Khải

------------------------------

 
VAN HOA VA GIA DINH # 143 = CHUONG TRINH VIET NGU PDF Print E-mail


Đài Vatican
tiếng nói của Đức Giáo Hoàng và của Giáo Hội đối thoại với thế giới
Kênh Youtube chương trình Việt Ngữ Vatican

Thánh Lễ Sáng Ngày 10-12-2015 - OSS_ROM
10/12/2015 12:35
PHẦN:

Kính thưa quý vị độc giả,

Bắt đầu từ ngày 8.12.2015, kênh Youtube của chương trình Việt Ngữ Đài Vatican chính thức đi vào hoạt động. Thông qua kênh này, chúng tôi sẽ chuyển đến quý vị cách sinh động và xúc tích những sự kiện trong Giáo Hội như: Thánh lễ hằng ngày của Đức Thánh Cha Phanxicô tại nhà nguyện thánh Marta, Buổi Tiếp Kiến Chung vào sáng thứ Tư hằng tuần, Buổi Đọc Kinh Truyền Tin lúc 12 giờ trưa Chúa Nhật...v.v. Quý vị có thể vào địa chỉ sau đây để theo dõi chương trình:

https://www.youtube.com/channel/UC1HuzI97H8M5bI3Wl6wKdvA

Đồng thời, quý vị có thể bấm "ISCRIVITI" hay "SUBSCRIBE" hay "ĐĂNG KÝ" kênh Youtube này để nhờ đó chương trình sẽ được đến gần với mọi người hơn.

Ban Việt Ngữ Vatican xin chân thành cảm ơn quý vị. Kính chúc quý vị Mùa Vọng nhiều ơn sủng và một Mùa Giáng Sinh an lành, thánh đức.

Ban Việt Ngữ Vatican

-------------------------------

 
VAN HOA VA GIA DINH # 142 = NHAC SI ANH BANG PDF Print E-mail

Nhạc sĩ Anh Bằng, một người Việt thương quê mình.


Cho đến khi nằm xuống, nhạc sĩ Anh Bằng vẫn còn những bài hát và dự án còn dang dở. Sức làm việc của ông thật đáng nể. Nhiều tổng kết cho rằng số lượng tác phẩm của ông để lại khoảng 650 bài, nhưng thực tế còn nhiều hơn như vậy, bởi gần mười năm đau yếu, ông vẫn không thôi sáng tác.
Nhạc sĩ Anh Bằng (1926-2015) viết rất nhiều thể loại, có lẽ vì vậy mà ông cũng là nhạc sĩ hiếm hoi trong lịch sử âm nhạc Việt Nam có rất nhiều bút danh. Bản tính hào sảng của ông cũng khiến cho gia tài âm nhạc của ông càng đồ sộ hơn, với hàng loạt các ca khúc sáng tác chung với nhạc sĩ Lê Dinh và Minh Kỳ – với tên chung là Lê Minh Bằng.
Năm 1975, khi nhạc sĩ Anh Bằng ra đi định cư ở Hoa Kỳ, dù lúc đó đã bước sang tuổi 50, nhưng ông vẫn sung sức trong sáng tác và đầy hoài bão trong việc dựng lại một cộng đồng sinh hoạt âm nhạc Việt ở xứ người. Công việc này lại suôn sẻ hơn, khi bà Thy Vân, con gái của ông Anh Bằng kết duyên với ông Bạch Đông, một người Việt ở Mỹ, một chuyên gia về âm thanh. Năm 1980, băng casette đầu tiên của Trung tâm Asia ra đời với các tác phẩm của Anh Bằng đã là một sự kiện của cộng đồng Việt Nam hải ngoại, vượt biên giới lan vào tận trong nước.
Trung tâm âm nhạc Asia dần dà trở thành một trong những chỗ dựa tinh thần quan trọng của người Việt xa quê hương. Với khuynh hướng thuần âm nhạc Việt Nam của nhạc sĩ Anh Bằng nhưng phát triển theo khuynh hướng công nghệ giải trí của Hollywood do ông Bạch Đông dẫn dắt, khiến Trung tâm Asia nhanh chóng trở thành một cái tên thân quen của các cộng đồng Việt không chỉ ở Mỹ mà còn ở Châu Âu, Úc... Vào thời điểm rực rỡ nhất của Asia, ít ai biết được rằng các tên tuổi của âm nhạc Mỹ cũng có mối quan hệ với trung tâm này, thông qua giám đốc điều hành là Bạch Đông. Thân thiết nhất, phải kể đến Richard Carpenter, ca sĩ – nhạc sĩ, và là người sáng lập nhóm Carpenter.
Một trong những sản phẩm được tuyển chọn bởi nhạc sĩ Anh Bằng, thành công đến mức bất ngờ – đến nay vẫn còn nghe lưu hành ở Việt Nam, là băng cassette Liên khúc Hoà tấu. Vào thập niên 80, ông Bạch Đông cho biết có đến hơn 200.000 băng cassette được phát hành và tạo một thành công đủ để mở đường cho sự lớn mạnh của Trung tâm Asia sau này. Tính đến hôm nay, kể cả cd và các bản chép không bản quyền, album này có thể đã vượt con số hàng triệu.
Giữa cuối thập niên 90, ông Bạch Đông rời Trung tâm Asia và chuyển sang sống, làm việc ở Thái Lan. Công việc được giao lại cho nhạc sĩ Trúc Hồ. Lúc này ông Anh Bằng cũng bắt đầu cũng vào giai đoạn sức khoẻ không được tốt, nên công việc chính do bà Thy Vân hoàn toàn kiểm soát. Tuy vậy khuynh hướng của trung tâm Asia vẫn là tâm nguyện của nhạc sĩ Anh Bằng: giữ gìn và phát triển dòng nhạc của miền Nam tự do trước năm 1975.
Đất Nga Sơn, Thanh Hoá thật sự kiêu hãnh với hai cái tên lớn trong văn học nghệ thuật Việt Nam: đó là nhà thơ Hữu Loan và nhạc sĩ Anh Bằng. Hữu Loan lớn hơn nhạc sĩ Anh Bằng 10 tuổi, nhưng cuộc đời của hai con người tài hoa này lại có nhiều nét tương đồng đến ngạc nhiên.
Nhà Thơ Hữu Loan khi bất đồng về việc thảm sát của chính quyền cộng sản trong chính sách cải cách ruộng đất, đã cứu cô con gái còn sống sót trong một gia đình tư sản từng giúp cho cách mạng và lên núi ẩn cư. Ông rời bỏ Hà Nội và chọn sống cô đơn để làm người tử tế. Nhạc sĩ Anh Bằng thì do gia đình bất đồng với những người cộng sản nên từng bị tuyên án tử hình, một người anh của nhạc sĩ cũng bị cộng sản thủ tiêu. 1954, khi ông Hữu Loan bỏ lên núi thì ông Anh Bằng cũng di cư vào Nam, để lại nơi chôn nhau cắt rốn những kỷ niệm tha thiết, được diễn tả trọn vẹn trong bài Nỗi lòng người đi. Toàn bộ lời bài hát, có hai câu để diễn đạt nỗi niềm của ông, rất dễ nhìn thấy là "Thăng Long ơi, năm tháng vẫn trôi giữa giòng đời, ngậm đắng nuốt cay nhiều rồi" và "Sài gòn ơi, mộng với tay cao hơn trời". Bất kỳ ai tinh ý cũng có thể nhìn thấy nỗi buồn của chàng thanh niên ra đi, mang theo chí lớn nhưng không thành, được hát lên như một tiếng thở dài cho thời thế.
Trong nửa thế kỷ, cả hai nhân vật tài hoa của Nga Sơn đã làm nên những huyền thoại cho riêng mình. Một người vạc tan đá núi tạc thành huyền thoại, một người viết nên những khúc ca, chồng chất nỗi buồn cao như núi.
Hai lần ra đi của nhạc sĩ Anh Bằng là hai chặng thời gian đầy biến cố của người Việt Nam. Bị cuốn vào thời cuộc và chìm trong mệnh nước nổi trôi, âm nhạc của ông cũng ngập trong nỗi buồn của riêng mình, của đời người.
Một trong những bài hát, có thể nói được hết cõi lòng của nhạc sĩ Anh Bằng, có lẽ là bài Cõi Buồn, phổ thơ của nhà thơ Phong Vũ. Nỗi tiếc nhớ bạn bè, tuổi thanh xuân và mọi ước nguyện còn dang dở đã dẫn đến cao trào với phần điệp khúc như niềm tuyệt vọng "Ta muốn kéo mặt trời lặn đàng Đông mọc đàng Tây. Ta muốn giam thời gian trong khám tù đày...". Bất kỳ ai, lúc này khi hát lên, cũng có thể cảm nhận hết sự cô đơn và muộn phiền của ông.
Giới âm nhạc chuyên nghiệp hay gọi tên nhạc sĩ Phạm Duy, Hoàng Thi Thơ, Anh Bằng, Lam Phương là tứ trụ của nền âm nhạc miền Nam Việt Nam. Tài năng, sự đa dạng về phong cách, nhạc thuật, tính khai phá... của những con người này dàn trãi gần như toàn bộ trên lịch sử âm nhạc miền Nam Việt Nam từ 1954-1975 và vẫn tiếp tục nối dài từ đó đến nay.
Nhạc sĩ Phạm Duy có bài Bà mẹ Gio Linh (1948) thì nối tiếp với tinh thần đó, nhạc sĩ Anh Bằng cũng có bài Chuyện Một Đêm (1968). Cả hai hai bài hát này vang vọng nỗi đau của người mẹ trong chiến tranh, khi đứng trước cái chết của con mình. Đi cùng với chính sử Việt Nam hiện đại, các tác phẩm này là một trong những phần bổ sung và thể hiện rõ nhất tâm tình, số phận con người Việt qua nội chiến, bên cạnh tập Ca khúc Da Vàng của Trịnh Công Sơn.
Đầu năm 2013, nhạc sĩ Anh Bằng gọi nhạc sĩ Việt Dzũng đến để bàn bạc việc ông muốn thực hiện một băng nhạc tranh đấu. Việc Trung Quốc cấm cản đường biển, tấn công ngư dân Việt, bức hại quê hương... khiến ông cũng muốn hành động. Cho nhạc sĩ Việt Dzũng nghe bài Giặc đến nhà, nhạc sĩ Anh Bằng nói rằng có thể ông sẽ không còn làm gì được nữa và muốn thực hiện một album như phần để lại, một di nguyện của một người yêu thương đất nước mình, dân tộc mình. Lúc đó, chân ông đã run, mắt ông đã mờ, tai ông không còn nghe rõ, có những cuộc trò chuyện phải viết ra trên giấy, nhưng ông nói mình đã viết nhiều bài hát tranh đấu như vậy. Tiếc thay, tháng 12/2013, nhạc sĩ Việt Dzũng qua đời, công việc còn đang dang dở cùng với lúc sức khoẻ của nhạc sĩ Anh Bằng ngày càng yếu hơn.
Như những bài hát đã viết, mang đầy lời hẹn và tiếc nhớ của mình, giấc mơ về lại quê hương của một người Việt tha hương mãi mãi còn dang dở, nhưng cuộc đời của ông thì lại quá đỗi trọn vẹn cho thế gian này, khi không ngừng cống hiến cho âm nhạc, cho con người Việt Nam. Khó mà biết được, ông ra đi thanh thản, hay ở cõi xa xôi nào đó, vẫn mơ về từng chiếc ghế đá, từng góc công viên, về những món nợ ân tình mà cuộc đẩy đưa khiến ông không bao giờ còn cơ hội để đáp đền.
nhacsituankhanh

-----------------------------

 
VAN HOA VA GIA DINH # 141= GIAO DUC CON CAI PDF Print E-mail

LÀM GÌ ĐỂ GIÁO DỤC CON CÁI?

Trần Mỹ Duyệt

"Làm gì để giáo dục cái?" Câu hỏi này đối với phần đông phụ huynh Việt Nam là làm sao tôi có thể bắt con tôi học làm bác sỹ, nha sỹ, dược sỹ, luật sỹ... và rất nhiều thứ sỹ. Nó mang một ẩn ý là con mình phải học hành, đỗ đạt, có bằng cấp để cha mẹ được nở mày, nở mặt, và con cái thì được giầu sang, phú qúi, có địa vị cao trong xã hội và ngay cả trong giáo hội. Rất ít phụ huynh khi nêu lên câu hỏi trên có ý nghĩ muốn tìm hiểu những phương pháp thực tiễn, tốt, và có hiệu quả của giáo dục hầu giúp cho con cái thành người trưởng thành, có tư cách, có đạo đức, sống xứng đáng với phẩm cách con người và giúp ích cho đời.

Nhận xét trên được thấy rõ nét trong những lần gặp gỡ, tâm sự, hoặc những buổi hội thảo về giáo dục, học đường, hoặc những liên quan trực tiếp đến vấn đề giáo dục gia đình. Đối với những phụ huynh quan tâm đến tương lai con cái theo nghĩa phải học thành tài, phải có địa vị, và giầu có thì những câu hỏi là làm sao giúp hoặc lo con họ được vào những trường danh tiếng, theo học những phân khoa mà sau khi tốt nghiệp sẽ làm một công việc nào đó ít nhất là có liên quan đến chữ "sỹ". Họ bắt con học, hối thúc con học, và nhiều khi cưỡng ép con học. Phải học thật giỏi, phải học thật nhiều. Học ở trường về, còn phải đi học kèm. Học chữ nghĩa chưa đủ, phải học đàn, học võ, học bơi, học vẽ... Những phụ huynh này cho rằng tất cả những cái đó sau này sẽ đem lại cho con họ những gì mà họ cho là danh giá nhất, giầu có nhất, sung sướng nhất. Đối với họ đó là giáo dục, là đầu tư cho tương lai con cái. Được như vậy, họ rất tự hào, hãnh diện và cho mình là những cha mẹ tốt, biết cách giáo dục, và lo cho con cái.

Đối với các phụ huynh trên sự thành đạt của con cái là chính (chín) , còn mặt mũi của họ là mười. Họ luôn luôn tự tâm niệm: "Con khôn nở mặt cha mẹ". Cái khôn hiểu ở đây là thành đạt, giầu có mặc dù cái khôn ấy giá trị thực của nó là bao nhiêu. Chính do những cái khôn thiếu chuyên môn, thiếu đạo đức ấy mà hậu quả đã có biết bao nhiêu trường hợp người này, người nọ phải vào tù oan, phải chết oan, hoặc phải mang thương tật suốt đời!...

Mặt khác cũng có rất nhiều phụ huynh khi nghĩ hoặc nói đến giáo dục con cái, là họ nghĩ ngay đến những đứa con đang làm họ nhức đầu. Những đứa con đang làm họ mất ngủ. Những đứa con mà họ không bao giờ muốn nhắc đến chúng trước mặt bạn bè, người thân. Và câu hỏi của họ là có cách nào, hoặc có "bửu bối" nào mà tâm lý hoặc giáo dục có thể giúp con họ không cãi trả họ, không giao du với bạn bè xấu, không hút sách, và trở lại trường, trở lại thánh đường, hội đường hay chùa chiền như những con chiên ngoan đạo. Và đối với những phụ huynh này việc con cái họ đừng làm cho họ nhức đầu là ưu tiên hàng đầu của giáo dục.

Như vậy, giáo dục đối với số đông phụ huynh Việt Nam là thôi thúc, cưỡng bức, và nhồi nhét con em theo cái nhìn và suy đoán của họ cho tương lai con cái: giỏi, ngoan, và dễ dậy. Họ không hề quan tâm đến việc con họ giỏi để làm gì, ngoan như thế nào, và dễ dậy là làm sao. Nó hoàn toàn khác với quan niệm và giáo dục của các phụ huynh Âu Mỹ. Người Hoa Kỳ tuy rất khuyến khích con cái trong vấn đề học vấn, nhưng không quan tâm và đòi hỏi con cái phải học ngành gì, học để sau này làm ông này, bà nọ. Họ chỉ khích lệ hoặc tán đồng sự lựa chọn của con cái. Theo họ, con cái có những khả năng và xu hướng phù hợp với lối sống, sự chọn lựa tương lai, và do đó, họ không mấy coi trọng mặt mũi, tiếng tăm, miễn sao con họ hài lòng và sống thoải mái với sự chọn lựa của mình. Trong câu truyện về nhà văn và luật sư Lan Cao mà tôi đã có dịp đọc và gần đây tình cờ tôi thấy bà xuất hiện trên một chương trình TV. Tôi nhớ lại, hồi còn trẻ chính bà cũng có những xung đột với thân phụ bà là đại tướng Cao Văn Viên. Ông muốn cho bà sau này làm bác sỹ, nhưng bà lại chọn nghề văn và học luật. Hiện tại cho thấy sự chọn lựa của bà là đúng, và bà đã trở thành một luật gia danh tiếng cũng như một nhà văn đang làm cho người Hoa Kỳ hiểu thêm về văn hoá và cả chiến tranh Việt Nam theo góc độ đúng của lịch sử.

Thật ra, giáo dục đúng nghĩa nhất vẫn là làm thế nào để hướng dẫn một em nhỏ lớn lên, phát triển và trưởng thành về tâm lý và tâm linh. Ý thức về cuộc sống, và sống để đem lại lợi ích cho đời, và làm đẹp chính cuộc đời mình. Đây là cách giáo dục mà phụ huynh cần phải nhắm tới. Ứng dụng thực hành, tức là cha mẹ phải hướng dẫn để con mình sau này làm nghề nghiệp gì, nắm giữ địa vị nào người con ấy vẫn sống trọn vẹn với ý thức công việc, nghề nghiệp và biết dùng những tài năng, sức khoẻ, thời giờ, tiền bạc để xây dựng tốt cho cuộc sống, giúp ích cho đời. Đó là giáo dục.

Trong khi đi tìm một ý nghĩa giáo dục như vậy, tôi đọc thấy mẫu gương của một gia đình quyền lực thuộc dòng họ Trudeau ở Canada. Là một thủ tướng, chính khách, trí thức, giáo sư, luật sư, nhà báo, và tác giả nhưng Ông Pierre Elliott Trudeau đã không tỏ ra hối thúc con mình phải chọn lựa bất cứ ngành nghề nào của Ông. Ngược lại, khi Justin Trudeau còn nhỏ ông đã gửi con ông đi học trường công và bằng xe bus chung với các học sinh khác. Justin Trudeau chỉ trở thành chính khách và làm thủ tướng theo gót chân cha mình sau khi đã trải qua đủ mọi thứ ngành nghề không mấy danh giá, nổi nang như nhà giáo, gác gian hộp đêm, nhà dìu dắt trượt snowboard.

Điểm nổi bật ở đây là bài học giáo dục mà ông Pierre đã dành cho con ông, đó là thái độ và lối sống tự lập, có đạo đức và tinh thần trách nhiệm. Ông Justin đã cho biết lề lối giáo dục của thân phụ ông như sau: Thời gian đó, ông lên 8 tuổi và biết có một người là đối thủ chính trị của cha ông. Để làm hài lòng cha ông, ông đã nói những lời diễu cợt về người ấy. Không ngờ cha ông đã nghiêm nét mặt, và nói với ông "đừng bao giờ tấn công cá nhân." Cha ông nói tiếp tục giải thích cho ông là chúng ta có thể hoàn toàn bất đồng ý kiến với một người nào đó, nhưng không vì vậy mà hạ giá họ. Không những thế, cha ông còn dắt tay ông đến và giới hiệu với người này. Bài học kinh nghiệm và chính trị đầu đời này đã cho ông một cái nhìn rõ ràng về người khác, dù người đó là người không đồng ý với mình, không đứng ở phía mình, không cùng chính kiến với mình, nhưng không có nghĩa là họ không đáng được tôn trọng.

Nhờ hưởng được nền giáo dục đứng nghĩa, đạo đức mà sau này thủ tướng Justin không những đã thành công, thành danh, và thành người nữa. Ông đã có thêm những phát biểu rất đáng cho các vị phụ huynh lưu tâm. Theo Ông có những người yêu ông, vì cha tôi, nhưng cũng có những người ghét ông vì cha ông. Nhưng riêng ông, ông đã học để mọi sự ra một bên, và hiểu là cả hai không phải là điểm tựa mà ông dùng để làm cái neo cho sự việc ông là ai và ông là cái gì?!

"Người cha khi nhắm mắt ông vẫn chưa chết. Vì con ông còn ở lại trên đời" (Huấn Ca 30:4). Bạn làm sao nhắm mắt được khi những đứa con mình còn đó đang hối lộ, tham lam, lợi dụng quyền thế, chức vụ để "vinh thân phì gia". Khi những đứa con của mình vì tiền tài, sắc dục, địa vị, giầu sang mà sẵn sàng "bán cả lương tâm!". Chắc chắn bạn vẫn không thể "chết" được!

Mời vào thăm trang nhà www.giadinhnazareth.org để tham khảo những bài vở hữu ích khác

---------------------------

 
VAN HOA VA GIA DINH # 140= MO PHAN CHA DAC LO PDF Print E-mail

MỘ PHẦN CHA ĐẮC LỘ.

https://www.facebook.com/photo.php?fbid=10205220619905934&set=a.1740299918182.98677.1559211848&type=3

Joe Nguyen

14 Tháng 11 2014

Sau 351 năm mới tìm thấy ngôi mộ người đã khai sinh ra những mẫu tự Việt Nam.

Kỷ niệm 354 năm qua đời của linh mục Alexandre de Rhodes.Sj (hay còn gọi là cha Đắc Lộ), Người đã khai sinh ra chữ Việt cho chúng ta đang sử dụng .

Xin cám ơn Người đã cho chúng ta biết được những mặt chữ tiếng Việt và từ đó chúng ta không còn lệ thuộc vào chữ viết của giặc Tàu nữa .

Tại Sài Gòn, con đường mang tên Alexandre de Rhodes nằm phía sau lưng Nhà Thờ Đức Bà, bên hông Nhà Văn Hóa Thanh Niên.

♦♦♦

Cha Đắc Lộ, một nhà truyền giáo vĩ đại của Giáo hội Công giáo Hoàn vũ nói chung và của Giáo hội Công giáo Việt Nam nói riêng, "Khi cho Việt Nam các mẫu tự La Tinh, Alexandre de Rhodes đã đưa Việt Nam đi trước đến 3 thế kỷ".

Năm 1651 khi chính thức xác định mẫu tự, bằng cách cho ra đời tại Roma nơi nhà in Vatican, quyển tự điển đầu tiên và các sách đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ, cha Đắc Lộ đã giải phóng nước Việt Nam khỏi nô lệ giặc Tàu .

Thật vậy, giống như Nhật Bản và Triều Tiên, người Việt Nam luôn luôn sử dụng chữ viết của người Tàu và bị nô lệ vì chữ viết này. Chỉ mới cách đây không lâu, người Triều Tiên mới chế biến ra một chữ viết riêng của họ. Còn người Nhật thì, sau nhiều lần thử nghiệm, đã phải bó tay và đành trở về với lối viết tượng hình biểu ý của người Tàu.

Trong khi đó, người Tàu của Mao Trạch Đông đang tìm cách dùng các mẫu tự La Tinh để chế biến ra chữ viết của mình, nhưng cho đến nay vẫn chưa thành công. Vậy mà dân tộc Việt Nam, nhờ công ơn của cha Đắc Lộ, đã tiến bộ trước người Tàu đến 3 thế kỷ.

♦♦♦

Với hy vọng có thể tìm được nơi linh mục trở về với cát bụi, chúng tôi, đoàn Việt Nam đang công tác tại Iran đã đến Isfahan – thành phố cổ cách Teheran 350 km về phía Nam. Đó là một ngày đầu năm 2011, một tuần sau lễ Giáng sinh.

Quảng trường Naghsh-i Jahan của Isfahan là một trong những quảng trường lớn nhất địa cầu với kiến trúc tiêu biểu Hồi giáo đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa nhân loại. Tại thành phố này, Alexandre de Rhodes đã sống những năm cuối đời. Mặc dù trước đó, phần đời chính của ông là ở Việt Nam.

Chúng tôi đến Isfahan vào một ngày mùa đông se lạnh nhưng tràn ánh nắng. Hỏi đường đến một nhà thờ Công giáo nào đó, chúng tôi được người dân chỉ dẫn tận tình. Điểm chúng tôi đến là nhà thờ Vank, nhà thờ thiên chúa lớn nhất Isfahan.

Qua giây phút ngạc nhiên trước đoàn khách Việt Nam, cha xứ nhà thờ nồng nhiệt đón tiếp chúng tôi hồ hởi. Trước nay, hiếm có du khách Á đông nào, nhất là từ Việt Nam xa xôi tới nơi đây. Ông nhiệt tình dẫn chúng tôi đi tham quan và nói về lịch sử nhà thờ.

Nằm trong thế giới Hồi giáo, nhà thờ có kiến trúc bề ngoài đặc trưng Hồi giáo, nhưng vào bên trong, với các tranh và tượng Thánh đầy ắp khắp các bức tường, cứ ngỡ như đang ở một nhà thờ nào đó ở Roma hay Paris.

Cha xứ càng ngạc nhiên hơn khi chúng tôi hỏi về giáo sĩ Alexandre de Rhodes – người đã mất cách đây hơn 350 năm. Nhà thờ Vank có một thư viện lớn, lưu trữ nhiều tư liệu quý giá. Cha xứ nói người vào thư viện tìm kiếm. Lát sau, một thanh niên to khỏe khệ nệ mang ra một cuốn sổ dày cộp, to chừng nửa cái bàn, bìa bọc da nâu ghi chép về các giáo sĩ đã làm việc và mất tại đây. Ngạc nhiên và vui mừng tột độ, cha và chúng tôi tìm thấy dòng chữ ghi Alexandre de Rhodes mất năm 1660.

Như vậy, không nghi ngờ gì nữa, chính tại nhà thờ Vank này, cha Đắc Lộ đã sống và làm việc những năm cuối đời. Chúng tôi hỏi:

"Thưa cha, liệu có thể tìm thấy mộ của Alexandre de Rhodes ở đâu không?".

Cha xứ tận tình chỉ đường cho đoàn khách đặc biệt tới Nghĩa trang Công giáo ở ngoại ô thành phố.

Nghĩa trang nằm dưới chân đồi. Các ngôi mộ nằm êm mát dưới tán rừng thông, tùng, bách mênh mông, vắng lặng. Lạ một điều, nghĩa trang Công giáo nhưng không thấy một cây thánh giá nào.

Chia nhau đi các ngả tìm kiếm, lần mò hồi lâu, chúng tôi reo lên khi thấy ngôi mộ có ghi rõ tên Alexandre de Rhodes. Mộ ông nằm bên cạnh hai ngôi mộ khác thành một cụm ba ngôi. Gọi là mộ, nhưng không đắp nổi như ở Việt Nam. Đó chỉ là tảng đá lớn nằm nghiêng nửa chìm, nửa nổi trên mặt đất. Dù đã trải qua mưa nắng, biến động cuộc đời hơn ba thế kỷ, chữ khắc trên tảng đá còn khá rõ nét.

Trong ánh nắng ban trưa, chúng tôi kính cẩn nghiêng mình trước ngôi mộ, ai cũng thấy dâng lên trong lòng mình những cảm xúc bâng khuâng khó tả.

♦♦♦

Cha Đắc Lộ sinh ngày 15/3/1591 ở Avignon (Pháp). Ông là nhà truyền giáo Dòng Tên. Ông đến Hội An (Việt Nam) đầu năm 1625, khi 34 tuổi, đi suốt Bắc - Nam truyền đạo và chỉ rời Việt Nam khi bị nhà Nguyễn trục xuất vĩnh viễn vào năm 1645.

Trong 20 năm ở đất Việt, ông đã có công tổng hợp, chỉnh lý những công trình của các giáo sĩ trước đó để hình thành chữ quốc ngữ Việt Nam hiện đại với tác phẩm "Tự điển Việt-Bồ-La" in năm 1651 tại Roma -Cuốn sách hệ thống hóa cách ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự La tinh. Cha Đắc Lộ còn để lại cuốn Phép giảng tám ngày - tác phẩm văn xuôi đầu tiên viết bằng chữ Quốc ngữ, phản ảnh văn ngữ và cách phát âm của người Việt thế kỷ 17.

Joe Nguyên tổng hợp từ các tư liệu

----------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 6 of 23