mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay5232
mod_vvisit_counterHôm Qua6286
mod_vvisit_counterTuần Này11518
mod_vvisit_counterTuần Trước42127
mod_vvisit_counterTháng Này66160
mod_vvisit_counterTháng Trước269154
mod_vvisit_counterTất cả9845919

We have: 83 guests online
Your IP: 54.163.210.170
 , 
Today: Dec 11, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



The News
VAN HOA VA GIA DINH # 136 = LICH SU LE TA ON PDF Print E-mail

Từ: Thekhiem Tran - 23-11=15

Thanks Giving - Lễ Tạ ơn lịch sử và truyền thống

Lễ Tạ ơn (tiếng Anh: Thanksgiving) là một ngày lễ hàng năm được tổ chức chủ yếu tại Hoa Kỳ và Canada.
Có ý nghĩa lúc đầu là mừng thu hoạch được mùa và tạ ơn Thiên Chúa đã cho sống no đủ và an lành. Đây cũng là ngày nghỉ lễ chính thức, cho tất cả người lao động theo luật định tại Mỹ và Canada.
Ngày và nơi diễn ra lễ Tạ ơn đầu tiên là chủ đề của một cuộc tranh cãi nhỏ. Mặc dù lễ Tạ ơn sớm nhất đã được kiểm chứng diễn ra vào ngày 8 tháng 9 năm 1565 tại khu vực ngày nay là Saint Augustine, Florida, nhưng "lễ Tạ ơn đầu tiên" theo truyền thống được coi là đã diễn ra tại khu vực thuộc thuộc địa Plymouth vào năm 1621.
Ngày nay, tại Hoa Kỳ, lễ Tạ ơn được tổ chức vào ngày thứ Năm lần thứ tư của tháng 11 vì thế ngày này có thể không phải là ngày thứ năm cuối cùng của tháng 11 như nhiều người lầm tưởng (thí dụ năm 2012 có đến 5 ngày thứ năm). Tại Canada, nơi có cuộc thu hoạch sớm hơn, ngày lễ này được tổ chức vào ngày thứ Hai lần thứ hai của tháng 10.
Lịch Sử
Lễ Tạ ơn gắn liền với các lễ hội ngày mùa thường được tổ chức ở châu Âu từ xưa.
Trong truyền thống Anh, ngày tạ ơn và nghi lễ tôn giáo tạ ơn đặc biệt trở nên quan trọng trong quá trình Cải cách Kháng Cách tại Anh trong thời kỳ trị vì của vua Henry VIII.
Tại Bắc Mỹ, lễ hội này đầu tiên được tổ chức tại Newfoundland bởi Martin Frobisher và nhóm Thám hiểm Frobisher năm 1578, để mừng tạ ơn Chúa đã cho sống sót, qua cuộc hành trình dài và nhiều bão tố từ Anh. Một lễ hội khác được tổ chức vào ngày 4 tháng 12 năm 1619 khi 38 người khai hoang từ giáo khu Berkeley xuống thuyền tại Virginia và tạ ơn Thượng đế.
Tuy nhiên trước đó, cũng có thông tin về một buổi tiệc Tạ ơn tổ chức bởi Francisco Vásquez de Coronado (cùng với nhóm người da đỏ Teya) ngày 23 tháng 5 năm 1541 tại Texas, để ăn mừng việc họ tìm ra lương thực. Một số người cho rằng đây là cuộc tổ chức Tạ ơn thật sự đầu tiên tại Bắc Mỹ. Một sự kiện tương tự xảy ra một phần tư thế kỷ sau, vào ngày 8 tháng 9 năm 1565 tại St. Augustine, Florida khi Pedro Menéndez de Avilés gặp đất liền; ông và những người trên thuyền đã tổ chức một buổi tiệc với người bản xứ.
Sự tích về ngày lễ tạ ơn
Bức tranh The First Thanksgiving của Jean Leon Gerome Ferris, người da trắng mời người da đỏ cùng ănBức tranh The First Thanksgiving của Jean Leon Gerome Ferris, người da trắng mời người da đỏ cùng ăn

Vào khoảng thế kỷ 16-17, một số người theo Công giáo và Thanh giáo tại Anh bị hoàng đế lúc đó bắt cải đạo để theo tôn giáo của ông ta, trong cuộc Cải cách Tin Lành. Những người này không chấp nhận và bị giam vào tù. Sau khi giam một thời gian vị hoàng đế truyền họ lại và hỏi lần nữa, họ vẫn quyết không cải đạo. Hoàng đế không giam họ vào tù nữa mà nói với họ rằng nếu họ không theo điều kiện của ông ta thì họ phải rời khỏi nước Anh.
Những người này rời khỏi Anh đến Hà Lan sinh sống nhưng họ sớm nhận ra mình không thể hoà nhập ở nơi này và lo sợ con cháu của họ sẽ bị mất gốc, một số nhóm người rời khỏi Hà Lan để đến Tân Thế Giới (Châu Mỹ) sinh sống, và sau này thường được gọi là Người lữ hành (Pilgrims). Những người này đi trên một con thuyền tên là Mayflower, họ đặt chân đến Thuộc địa Plymouth thuộc vùng Tân Anh (New England) khi đang mùa đông. Đói và lạnh, một nửa trong số họ không qua nổi mùa đông khắc nghiệt. Đến mùa xuân, họ may mắn gặp được những thổ dân da đỏ tốt bụng và cho họ ít lương thực. Người da đỏ dạy họ những cách sinh tồn ở vùng đất này như cách trồng hoa màu, săn bắt,... Khi người Pilgrims đã có thể tự lo cho bản thân được, họ tổ chức một buổi tiệc để tạ ơn Chúa Trời vì đã cho họ có thể sống đến ngày hôm nay, họ mời những người da đỏ và cùng nhau ăn uống vui vẻ. Từ đó về sau, hằng năm con cháu của người Pilgrims luôn tổ chức lễ tạ ơn để cảm ơn cho những gì tốt đẹp đã đến với cuộc sống.
Theo tài liệu, buổi lễ tạ ơn đầu tiên tại Hoa Kỳ, do người Pilgrims tổ chức, là vào năm 1621 tại Thuộc địa Plymouth, ngày nay thuộc Massachusetts, sau một vụ thu hoạch tốt.
Tổ chức truyền thống
Bánh Pumpkin(Pumpkin pie) thường dùng trong mùa Lễ Tạ ơn tại Bắc MỹBánh Pumpkin(Pumpkin pie) thường dùng trong mùa Lễ Tạ ơn tại Bắc MỹLễ Tạ ơn thường được tổ chức với một buổi tiệc buổi tối cùng với gia đình và bạn bè với món thịt gà tây. Tại Canada và Hoa Kỳ, nó là một ngày quan trọng để gia đình sum họp với nhau, và người ta thường đi xa để về với gia đình. Người ta thường được nghỉ bốn ngày cuối tuần cho ngày lễ này tại Hoa Kỳ: họ được nghỉ làm hay học vào ngày thứ Năm và thứ Sáu của tuần đó. Lễ Tạ ơn thường được tổ chức tại nhà, khác với ngày Lễ Độc lập Hoa Kỳ hay Giáng Sinh, những ngày lễ mà có nhiều tổ chức công cộng (như đốt pháo hoa hay đi hát dạo). Tại Canada, nó là một cuối tuần ba ngày, người ta thường được nghỉ vào ngày thứ Hai thứ nhì của tháng 10 mỗi năm.
taonturkeytaonturkeyTại Hoa Kỳ, người ta thường tưởng nhớ đến một bữa ăn tổ chức trong năm 1621 giữa người da đỏ Wampanoag và nhóm Pilgrim đã di cư tại Massachusetts. Lễ Tạ ơn đã được thực hiện chủ yếu bởi các nhà lãnh đạo tôn giáo tại New England cho đến năm 1682, và sau đó bởi cả hai nhà lãnh đạo chính quyền và tôn giáo cho đến sau Cách mạng Hoa Kỳ. Tổng thống Hoa Kỳ George Washington đã công bố lễ tạ ơn toàn quốc đầu tiên ở Mỹ vào ngày 26 tháng 11 năm 1789, "là một ngày tạ ơn công cộng và cầu nguyện bởi sự công nhận với lòng biết ơn sự gia ân và tín hiệu tốt của Thiên Chúa Toàn Năng". Nhiều chi tiết của câu chuyện là truyền thuyết được đặt ra trong những năm 1890 và đầu thế kỷ 20 để tạo một biểu hiện sự đoàn kết quốc gia sau Nội chiến Hoa Kỳ cũng như để đồng hóa các người nhập cư.
Tại Canada, Lễ Tạ ơn là một cuối tuần ba ngày. Trong khi ngày Lễ Tạ ơn nằm vào ngày thứ Hai, người Canada có thể ăn buổi tiệc trong bất cứ ngày nào trong ba ngày cuối tuần đó. Việc này thường dẫn đến việc ăn một buổi tiệc với nhóm người này hôm này, rồi với nhóm khác hôm kia.
Từ cuối thập niên 1930, mùa mua sắm cho Giáng Sinh tại Hoa Kỳ chính thức bắt đầu khi ngày Lễ Tạ ơn chấm dứt. Tại Thành phố New York, cuộc diễn hành Lễ Tạ ơn của Macy (Macy's Thanksgiving Day Parade) được tổ chức hằng năm vào ngày này tại Manhattan. Diễn hành thường có nhiều khán đài với nhiều chủ đề, có bong bóng lớn hình các nhân vật trên Truyền hình và các ban nhạc từ những trường trung học. Diễu hành này lúc nào cũng kết thúc với một Ông già Nôen. Có nhiều cuộc diễn hành khác tại nhiều thành phố khác.
taondien79taondien79
Trong khi ngày thứ Sáu (còn gọi là Thứ Sáu Đen) sau ngày Lễ Tạ ơn là ngày mua sắm đông nhất trong năm tại Hoa Kỳ, nhiều cửa hàng đã bắt đầu chào đón khách hàng với các món hàng cho mùa lễ ngay sau Halloween.
Bóng bầu dục (American football) thường là một phần quan trọng trong ngày Lễ Tạ ơn tại Hoa Kỳ cũng như tại Canada. Các đội chuyên nghiệp thường đấu nhau trong ngày này để khán giả có thể xem trên truyền hình. Thêm vào đó, nhiều đội banh trung học hay đại học cũng đấu nhau vào cuối tuần đó, thường với các đối thủ lâu năm.

MISSAIGON CHUYỂN

-----------------------------

 
VAN HOA VA GIA DINH # 135 = DAI TA MY GOC VIET PDF Print E-mail


> Date: November 22, 2015 at 9:34:17 AM EST

> Đại tá Lục quân gốc Việt Tôn Thất Tuấn- tùy viên quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam
> Trần Anh


> Bộ quốc phòng Hoa Kỳ vừa bổ nhiệm Đại tá Lục quân Hoa Kỳ gốc Việt Tôn Thất Tuấn làm tùy viên quân sự Tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội Việt Nam, thay thế cho Đại tá Lục quân Earnest Lee, vừa mãn nhiệm kỳ trở về Bộ Quốc Phòng nhận nhiệm vụ mới.
> Đại tá Tôn Thất Tuấn là tùy viên quân sự Hoa Kỳ gốc Việt thứ hai, sau Đại tá Lục quân Hoa Kỳ gốc Việt Patrick D. Reardon, tùy viên quân sự nhiệm kỳ trước Đại tá Earnest Lee.
> Văn phòng Tùy viên Quân sự Tòa Đại sứ Hòa Kỳ tại Việt Nam chịu trách nhiệm hỗ trợ trong việc phối hợp thực hiện chính sách quân sự của Hoa Kỳ, đồng thời là đại diện cho Bộ trưởng Quốc phòng, và Tư lệnh Quân đội Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, và các cơ quan quân sự khác của Hoa Kỳ. Do đó, Đại tá Tùy viên Quân sự chịu trách nhiệm phân tích và tường trình về những diễn biến quân sự tại Việt Nam, những vấn đề an ninh đang diễn ra trong khu vực và trên toàn thế giới. Những thông tin này được sử dụng để đưa ra những chính sách quân sự đối với Việt Nam và các nước Đông Nam Á. Văn phòng Tùy viên Quân sự cũng phối hợp tất cả các hoạt động về an ninh giữa quân đội Hoa Kỳ và quân đội Việt Nam tại các diễn đàn song phương và đa phương, cũng như trong mọi lĩnh vực hoạt động quân sự.
> Đại tá Tôn Thất Tuấn, một thuyền nhân tị nạn định cư Hoa Kỳ vào năm 1977. Sau khi hoàn tất Đại học Southeastern Oklahoma State University, ông theo đuổi ước mơ phục vụ trong quân đội và trở thành một binh sĩ vào năm 1986. Đơn vị đầu tiên trong đời quân ngũ của ông là Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 30, Lữ đoàn 3, Sư đoàn 3 Bộ binh. Năm 1989, ông theo thụ huấn khóa sĩ quan, và trở thành một sĩ quan bộ binh. Từ đó ông lần lượt thuyên chuyển phục vụ tại các đơn vị như: Sư đoàn 101 nhảy dù (101st Airborne Division), Sư đoàn 1 Thiết kỵ (1st Cavalry Division), Bộ tư lệnh Thái Bình Dương (U.S. Pacific Command), Lực lượng hỗn hợp tìm kiếm tù binh và quân nhân Hoa Kỳ mất tích/Bộ quốc phòng (Defense POW/MIA Accounting Agency) v.v...
> Đại tá Tôn Thất Tuấn đã từng phục vụ và chiến đấu tại Kuwait, Iraq và Afghanistan-Pakistan border. Ông được ân thưởng nhiều huy chương cao quý như: Bronze Star Medal, Defense Meritorious Service Medal with 2nd Oak Leaf, Meritorious Service Medal, Department of State Meritorious Honor Award, Ranger Tab, Parachute Badge, Air Assault Badge, and Combat Infantryman Badge.
> Ông được thăng cấp Đại tá vào năm 2012.
> (Trần Anh)

TRI VŨ CHUYỂN
> __._,_.___

 
VAN HOA VA GIA DINH # 133 = DA DAO TUC NGU VE PHU NU PDF Print E-mail

Phụ nữ VN qua ca-dao,tục ngữ

=========

Nhìn phụ nữ qua kinh nghiệm văn chương

Rau răm ngắt ngọn lại trồng
Em thương anh lắm sợ lòng chị ghen.
Anh về bảo chị đừng ghen,
Để em thấp thoáng ánh đèn cho vui.

Dễ thương biết chừng nào !

Thế gian ba sự không chừa,
Rượu nồng, dê béo, gái vừa đương tơ.

Hỡi anh đi đường cái quan,
Dừng chân đứng lại em than vài lời.
Đi đâu vội thế anh ơi,
Công việc đã có chị tôi ở nhà.

Gặp anh em cũng muốn chào,
Sợ rằng chị cả dắt dao trong người.

Chẳng thà chịu lạnh nằm không,
Còn hơn có vợ lẹm cằm, răng hô.
Người mà phinh phính mặt mo,
Chân đi chữ bát, có cho chẳng thèm

Người mà con mắt lá răm,
Chân mày lá liễu đáng trăm quan tiền.

Mặt má miếng bầu, nhìn lâu muốn chửi
Mặt chữ điền, tiền rưỡi cũng mua.

Người mà đáy thắt lưng ong,
Vừa khéo chiều chồng, vừa khéo nuôi con
Những người béo trục béo tròn,
Ăn vụng như chớp, cấu con cả ngày.

Trai Nhâm Đinh Quý thì tài
Gái Nhâm Đinh Quý phải hai lần đò.

Sông bao nhiêu nước cũng vừa,
Trai bao nhiêu vợ cũng chưa vừa lòng

Hoặc :

Trong nhà có sẵn yến ngâm,
Lại còn muốn những nhung sâm nước ngoài.

Con quạ bay xa, bay qua vườn hoa kêu chua chát,
Con nhạn đậu lầu vàng nghỉ mát kêu sương
Nhạn kêu tiếng nhạn đau thương,
Đêm nằm nhớ vợ, ngày thường nhớ em.

Ai xui ai khiến bất nhơnTui thấy vợ bạn tui thương hơn vợ nhà.

Buồn tình chẳng muốn nói cười,
Bởi thương vợ người không được thì thôi.

Dao phay kề cổ, máu đổ không màng
Chết tôi, tôi chịu, buông nàng không buông.

Đàn ông năm bảy lá gan,
Lá ở cùng vợ, lá toan cùng người.

Hai tay cầm hai quả hồng,
Quả chát phần chồng, quả ngọt phần trai.
Đêm nằm vuốt bụng thở dài,
Thương chồng thì ít thương trai thì nhiều.

Một đêm quân tử nằm kề,
Còn hơn thằng ngốc vỗ về quanh năm.
Hay :
Một ngày dựa mạn thuyền rồng
Còn hơn chín tháng nằm trong thuyền chài

Có chồng càng dễ chơi ngang,
Đẻ ra con thiếp, con chàng, con ai ?

Con tôi đi kiếm về đây,
Có cho nó gọi bằng thầy thì cho.

Lẳng lơ cũng chẳng có mòn,
Chính chuyên cũng chẳng sơn son để thờ.

Em đây là gái năm con,
Chồng em rộng lượng, em còn chơi Xuân.

Đêm qua để cửa chờ chồng
Đêm nay để cửa chờ ông láng giềng.

NGUỒN INTERNET

------------------------

 
VAN HOA VA GIA DINH # 132 =NGUOI PHU NU GOC VIET PDF Print E-mail

 

 Người phụ nữ gốc Việt được lấy tên đặt cho một tiểu hành tinh

Phải nói là cảm thấy hài lòng và may mắn là người Việt ...vượt biên.Ở trong nước thì làm...thanh niên xung phong là cùng,làm gì có cơ hội để dùng kính thiên văn tại Hawaii để tìm ra tiểu hành tinh?

Người phụ nữ gốc Việt được lấy tên đặt cho một tiểu hành tinh
By on October 16, 2015
Giáo sư Lưu Lệ Hằng (SN 1963, người Mỹ gốc Việt) được thế giới biết đến với hai giải "Nobel thiên văn học" và là người phụ nữ được lấy tên đặt cho một tiểu hành tinh.
Giáo sư Lưu Lệ Hằng phát biểu trong lần về Việt Nam này
Vị nữ giáo sư này vừa về Việt Nam với nhiều hoạt động, trong đó, có giao lưu với học sinh, sinh viên và các cán bộ khoa học. Chúng tôi bất ngờ khi gặp, chị luôn nở nụ cười, ăn mặc phóng khoáng với áo thun và quần kaki, năng động cùng mái tóc ngắn.
Kiên trì với đam mê
Chị Hằng trò chuyện khá thân tình, vui vẻ. Chị kể, mình sinh ra và lớn lên tại Saigon nhưng quê gốc ở Hải Phòng.
Năm 1975, chị cùng người thân sang Mỹ định cư. Họ đến nhà một số họ hàng ở tiểu bang Kentucky. Ở đất nước xa lạ, gia đình chị gặp vô vàn khó khăn về mặt kinh tế, lẫn xáo trộn văn hóa. Thế nhưng, cha mẹ chị vẫn cố gắng để nuôi nấng con cái học hành.
Trong quá trình học tập, chị luôn đạt danh hiệu cao. Tốt nghiệp phổ thông, chị giành được học bổng của trường đại học Stanford và đỗ cử nhân vật lý lúc tròn 21 tuổi.
Trên giảng đường, chị hứng thú bởi những lý thuyết, hình ảnh về khoa học hành tinh. Một lần, chị đến thăm phòng thí nghiệm, được nhìn thấy những hình ảnh được truyền về từ Hỏa tinh, Thổ tinh thì rất thích thú và quyết định theo ngành thiên văn học.
Sau đó, chị chọn vào học viện Công nghệ Massachustts học khoa Trái đất, khí quển và khoa học hành tinh.
Tại học viện, chị được David Jewitt hướng dẫn. Anh hơn chị năm tuổi. Chỉ trong khoảng thời gian ngắn, cả hai nhận ra mình có nhiều điểm tương đồng, như có thể ngồi hàng giờ liền để quan sát thông qua kính thiên văn.
Cả hai đặc biệt chú ý đến phỏng đoán của nhà thiên văn học người Mỹ gốc Hà Lan Gerard Kuiper cho rằng, có một vành đai các tiểu hành tinh ở vùng cửa ngõ hệ mặt trời. Nhiều nhà khoa học đã dành phần đời của mình để nghiên cứu phỏng đoán này, nhưng đều thất bại. Do đó, về sau, hầu hết các nhà khoa học cho rằng, phỏng đoán của Kuiper là vô căn cứ.
Thế nhưng, với tâm thức "biết đâu có điều đặc biệt chưa được khám phá", năm 1987, chị cùng David quyết định bắt tay vào nghiên cứu phỏng đoán của Kuiper. Tuy nhiên, khi các chuyên gia dần khước từ phỏng đoán của Kuiper mà anh chị lại lao vào nghiên cứu nên nhiều người cho rằng, đây chỉ là một chuyện chẳng thu được kết quả gì. Do đó, không có bất kỳ một cơ quan, tổ chức nào chấp nhận hỗ trợ kinh phí.
Dù vậy, hai người vẫn quyết theo đuổi ý định bằng cách tự bỏ tiền túi để nghiên cứu. Vào 1988, Daivid rời học viện công nghệ Massachustts, đến Hawai công tác. Dù đoạn đường cách xa hàng nghìn dặm, nhưng chị vẫn chưa một lần có ý định bỏ ngang khát khao tìm ra "điều đặc biệt". Chị làm việc, tích cóp tiền để mùa hè bay hơn nửa vòng trái đất, đến Hawai làm việc với Daivid trong vòng ba tuần. Mỗi khi đến, chị chỉ lên đỉnh ngọn núi lửa đã tắt Mauna Kea với chiếc kính viễn vọng đường kính 2,2 mét.
Trước khi đến Mauna Kea, anh chị phải đăng ký giữ chỗ tại đài thiên văn cả năm trời. Đây là nơi hẻo lánh, có thể tránh xa được sự ồn ào, náo nhiệt lẫn những tạp âm, nhiễu sóng của chốn đô thị. Nó cao hơn mực nước biển 4.000 km, không khí khá loãng. Nhưng, là địa điểm lý tưởng để theo dõi các hành tinh trong hệ mặt trời.
Thời gian biểu chị làm việc từ lúc mặt trời lặn đến khi bình minh lên. Sáng, chị đi ăn rồi về phòng, với giấc ngủ mộng mị vì thiếu oxy. Bốn lần chị đặt chân đến Hawai, gặp gỡ Daivid, làm việc trong điều kiện khắc nghiệt, nhưng vẫn không tìm được chút manh mối khả quan nào.
Thành công bất ngờ
Chị cho biết, đài thiên văn Mauna Kea sở hữu nhiều công nghệ tiên tiến nhất trên trái đất lúc bấy giờ. Ngoài ra, chị sử dụng máy ảnh kỹ thuật số thế hệ mới, có độ nhạy gấp hai lần và trường nhìn rộng gấp bốn lần so với thế hệ trước. Mỗi lần quan sát, họ chụp liên tiếp ba tấm hình để đối chiếu xem có vật thể nào đã thay đổi vị trí hay không. "Phải chụp ba tấm để đối chiếu. Nếu chỉ chụp hai tấm thì hình ảnh dùng đối chiếu có thể không chuẩn xác", chị nói.

Đêm 30/8/1992, cả hai vẫn lên Mauna Kea như bình thường. Sau khi chị quan sát và chụp hình, David thế chỗ. Khi anh chụp bức ảnh thứ hai thì bất ngờ dừng lại, quay sang nói với chị: "Jane ơi! Có gì đó bất thường. Có chấm sáng như vết tia vũ trụ đang di chuyển".
Chị vụt dậy, đến xem thì đó là một vệt sáng nhòe. Nó không như những tia vũ trụ bất ngờ bay tới kính viễn vọng như bình thường. Họ lại chụp liên tiếp hàng loạt tấm ảnh khác. Mỗi bức ảnh, vệt sáng ấy lại di chuyển một xa hơn.
Nhớ lại đêm ấy, chị bảo, công việc nghiên cứu, theo dõi, chụp hình lặp đi lặp lại suốt năm năm ròng. Do đó, khi gặp hiện tượng lạ, cả hai vui mừng lắm. Tuy nhiên, họ vẫn không dám hy vọng quá nhiều. Và, họ dặn nhau chưa thể công bố, tiếp tục quan sát, tìm hiểu vệt sáng di chuyển ấy là gì. Công việc vẫn tiếp tục như bình thường, nhưng lại có một niềm tin được nhen nhóm.
Khi đã đủ đầy bằng chứng có thể khẳng định, vệt sáng ấy là một tiểu hành tinh, anh chị quyết định công bố. Nó quay quanh mặt trời ở khoảng cách 6,6 tỉ km, xa gấp 44 lần khoảng cách mặt trời và trái đất, có đường kính 280 km.
Anh chị tiếp tục nghiên cứu thêm nhiều năm sau nữa. Về sau, có một nghiên cứu sinh người Trung Quốc và một nghiên cứu sinh khác là Michael E Brown cùng tham gia nhóm nghiên cứu.
Nhóm phát hiện ngoài tiểu hành tinh đầu tiên, còn có khoảng 70.000 vật thể khác có đường kính lớn hơn 100 km, và hàng triệu vật thể có đường kính nhỏ hơn. Trong đó, Diêm Vương tinh cũng chỉ là một tiểu hành tinh. Tất cả chúng hợp thành một quần thể và được gọi là Vành đai Kuiper.
Năm 1992, chị nhận bằng tiến sỹ tại Học viện Công nghệ Massachustts, và nhận học bổng Hubble của Viện đại học Califfonia – Brekeley.
Để vinh danh chị, cộng đồng thiên văn học thế giới đã chọn một tiểu hành tinh trong Vành đai Kuper đặt tên là 540 Luu. Họ Lưu của chị được dùng để gọi tiểu hành tinh này. Từ năm 1994, chị là giáo sư thiên văn học tại Viện đại học Harvard, và hiện làm việc tại phòng thí nghiệm Lincoln tại Học viện Công nghệ Massachustts.
Sự phát hiện của chị cùng với các cộng sự đã tạo ra một sự đột phá trong thiên văn thế giới. Họ đã chứng minh rằng, phỏng đoán của Gerard Kuiper là đúng chứ không phải là sai lầm. Trong năm 2012, chị cùng hai cộng sự là David Jewitt và Michael E Brown được trao giải Kavli về vật lý. Cùng năm, chị và David Jewitt được trao giải Shaw. Hai giải thưởng này được xem là "nobel thiên văn học".
Trong cuộc trò chuyện, chị chia sẻ, trong hành trình tìm hiểu về Vành đai Kuiper, ngược chiều với dư luận, đồng nghiệp nên đôi lúc có chút dao động. Nhưng, chị luôn lấy câu nói của Edison làm châm ngôn cho mình: "Thiên tài là 1% và 99% mồ hôi".
Chị cho rằng, tất cả mọi người, ai cũng mong muốn mình là người thông minh xuất chúng. Nhưng, điều đó chỉ dừng lại ở số ít rất nhỏ. Còn lại, để muốn đạt được mục đích thì phải đổi bằng mồ hôi, công sức. Riêng thế hệ trẻ, hãy tìm cho mình một niềm yêu thích và đam mê.
Và, bạn hãy tự tìm thấy thú vui trong đam mê đó. Bạn đừng vội nản lòng nếu may mắn chưa mỉm cười với mình. Chỉ cần đam mê, yêu thích, kiên trì, chắc chắn, bạn sẽ đi đến tận cùng ý nghĩa.
Chị cho hay, trong nghiên cứu khoa học không dành cho những người lười biếng, thiếu sự nhẫn nại. Với những bạn trẻ làm khoa học, nếu nhận thấy thắc mắc về một điều gì đó thì hãy tự tìm câu trả lời. Đừng vì những lời bàn tán của người khác mà nản lòng. Cái kết của việc tìm tòi là không ai có thể dự đoán được.
Tự hào là người Việt Nam
Chị Hằng cho biết, trong tâm thức, chị luôn cảm thấy hài lòng và may mắn khi là người gốc Việt. Bất kể, đi đâu, chị cảm thấy tự hào khi giới thiệu về mình là con lạc cháu hồng. Đây cũng chính là lý do, chị nhận lời trở về nước, với hy vọng góp phần thổi bùng ngọn lửa yêu khoa học trong mọi người nói chung và giới trẻ nói riêng.

SƯU TẦM

---------------------

-------------------------

 
VAN HOA VA GIA DINH # 131= THUONG HOI DONG GIA DINH PDF Print E-mail

Bài giảng của Đức Thánh Cha trong thánh lễ khai mạc Thượng Hội Đồng về Gia Đình
J.B. Đặng Minh An dịch10/4/2015

Lúc 10h sáng Chúa Nhật, Đức Thánh Cha Phanxicô đã chủ sự thánh lễ khai mạc Thượng Hội Đồng về Gia Đình. Dưới đây là toàn văn bài giảng của ngài.

"Nếu chúng ta yêu thương nhau, thì Thiên Chúa ở lại trong chúng ta, và tình yêu của Người nơi chúng ta mới nên hoàn hảo."(1 Gioan 4:12).

Các bài sách Thánh trong Chúa Nhật này dường như đã được lựa chọn chính xác cho thời điểm ân phúc mà Giáo Hội đang trải qua là Thượng Hội Đồng về Gia Đình, bắt đầu với buổi cử hành Thánh Thể này. Trung tâm của các bài đọc là ba chủ đề: sự cô đơn, tình yêu giữa người nam và người nữ, và gia đình.

Sự cô đơn

Adong, như chúng ta đã nghe trong bài đọc thứ nhất, được sống trong Vườn Địa Đàng. Ông đặt tên cho tất cả các sinh vật khác như là một dấu chỉ về sự thống trị của mình, về quyền lực rõ ràng và không thể tranh cãi của mình, trên tất cả mọi loài. Tuy nhiên, ông cảm thấy cô đơn, bởi vì "chẳng tìm được một trợ tá cho ông" (St 2:20). Ông cô độc một mình.

Thảm trạng cô đơn là kinh nghiệm của vô số những người nam nữ trong thời đại chúng ta. Tôi nghĩ đến những người cao niên, bị bỏ rơi bởi chính những người thân yêu và con cái mình; những góa phụ và những người goá vợ; đến cơ man những người nam nữ bị người phối ngẫu của mình bỏ rơi; đến tất cả những người cảm thấy cô đơn, bị hiểu lầm và chẳng được lắng nghe; đến những người di cư và tị nạn chạy trốn khỏi chiến tranh và bách hại; đến những người già và đông đảo những người trẻ là nạn nhân của nền văn hóa tiêu dùng, văn hóa hoang phí và loại bỏ.

Ngày nay chúng ta cảm nhận được các nghịch lý của một thế giới toàn cầu hóa đầy những biệt thự sang trọng và các tòa nhà chọc trời, nhưng cùng với chúng là sự giảm thiểu cái ấm áp của mái ấm gia đình; cơ man những kế hoạch và các dự án đầy tham vọng, nhưng người ta càng ngày càng có ít thời gian để hưởng thụ chúng; nhiều phương tiện tinh vi của giải trí, nhưng lại có một sự trống rỗng nội tâm sâu sắc và lớn dần; nhiều thú vui, nhưng rất ít tình thương; nhiều thứ quyền, nhưng lại rất ít tự do. .. Số lượng những người cảm thấy cô đơn không ngừng tăng lên, cũng như số lượng những người đang bị cuốn hút vào thói ích kỷ, tâm trạng chán chường, bạo lực phá hoại và chế độ nô lệ cho khoái lạc và tiền bạc.

Tình yêu giữa người nam và người nữ

Trong bài đọc thứ nhất, chúng ta cũng nghe thấy Thiên Chúa đã đau khổ vì sự cô đơn của Adong. Ngài nói: "Con người ở một mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó." (St 2: 18). Những lời này cho thấy rằng không có gì làm cho trái tim con người hạnh phúc bằng một trái tim như của chính mình, một trái tim yêu mến anh ta và làm mất đi cảm giác trơ trọi một mình. Những lời này cũng cho thấy Thiên Chúa không tạo nên chúng ta để phải sống trong nỗi buồn hay trong cô đơn. Người đã tạo ra có nam có nữ để được hạnh phúc, để chia sẻ cuộc hành trình của họ với người bổ túc cho mình, để sống kinh nghiệm kỳ diệu của tình yêu: để yêu và được yêu, để được nhìn thấy tình yêu sinh hoa kết trái nơi con cái, như được nêu trong Thánh Vịnh ngày hôm nay (x. Thánh Vịnh 128).

Đây là giấc mơ của Thiên Chúa cho kỳ công sáng tạo yêu quý của mình: đó là thấy nó thành toàn trong sự kết hiệp yêu thương giữa một người nam và một người nữ, khi họ vui mừng trong cuộc hành trình được chia sẻ với nhau, sinh hoa kết quả trong món quà trao tặng cho nhau là chính mình. Đó cũng là kế hoạch Chúa Giêsu trình bày trong Tin Mừng hôm nay: "Từ lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ; vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt." (Mc 10: 6-8; x. St 1:27; 2:24).

Gia đình

"Như thế, điều gì Thiên Chúa đã kết hiệp, loài người không được phân ly" (Mc 10: 9). Đây là một lời khích lệ các tín hữu đang vượt qua mọi hình thái của chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa duy luật trong đó che giấu một sự tập trung hẹp hòi vào cái tôi của mình và nỗi sợ hãi phải chấp nhận ý nghĩa đích thực của đời sống lứa đôi và tính dục của con người theo kế hoạch của Thiên Chúa.

Thật vậy, chỉ trong ánh sáng của sự điên rồ trong tình yêu nhưng không nơi mầu nhiệm vượt qua của Chúa Giêsu thì sự điên rồ trong tình yêu độc quyền trao cho nhau cách nhưng không suốt đời của vợ chồng mới có ý nghĩa. Đối với Thiên Chúa, hôn nhân không phải là một điều không tưởng vị thành niên, nhưng là một giấc mơ mà không có giấc mơ ấy thì mọi sinh vật của Ngài sẽ phải cam chịu cảnh cô đơn! Thật vậy, nỗi sợ phải chấp nhận kế hoạch này làm tê liệt trái tim con người.

Nghịch lý thay, con người ngày nay - những người thường xuyên chế nhạo kế hoạch này - tiếp tục bị cuốn hút và say mê bởi mọi tình yêu đích thực, mọi tình yêu bền vững, mọi tình yêu sinh hoa kết quả, mọi tình yêu trung tín và lâu dài. Chúng ta nhìn thấy bao người đuổi theo những tình yêu thoáng qua trong khi mơ về tình yêu đích thực; họ đuổi theo những thú vui xác thịt nhưng ao ước sự tự hiến hoàn toàn.

"Giờ đây, sau khi chúng ta đã nếm trải đầy đủ những lời hứa về thứ tự do không giới hạn, chúng ta lại một lần nữa bắt đầu đánh giá cao cái cụm từ cũ là 'Thế giới mệt mỏi'. Những thú vui bị cấm mất hết sức hấp dẫn của chúng ngay tại thời điểm chúng hết bị cấm. Ngay cả khi chúng bị đẩy đến tận cùng và không ngừng được đổi mới, chúng tỏ ra vô vị, vì chúng chỉ là những thực tại hữu hạn trong khi chúng ta khao khát sự vô hạn"(Joseph Ratzinger, Auf Christus schauen. Einübung trong Glaube, Hoffnung, Liebe, Freiburg, 1989, p.73).

Tôi nhớ Thánh Gioan Phaolô Đệ Nhị từng nói: "Tội lỗi và cái ác luôn luôn phải bị lên án và phản đối; nhưng người sa ngã hay sai lầm phải được thấu hiểu và yêu thương. .. chúng ta phải yêu thời đại chúng ta và giúp con người của thời đại chúng ta "(Gioan Phaolô Đệ Nhị, Diễn văn gửi các thành viên của Công Giáo Tiến Hành Italia, 30 Tháng 12 năm 1978). Giáo Hội phải tìm ra những người ấy, chào đón và đồng hành cùng với họ, vì một Giáo Hội với cánh cửa đóng kín phản bội lại chính mình và sứ mệnh của mình, và, thay vì là một cây cầu thì trở thành một rào cản: "Đấng thánh hoá là Đức Giêsu, và những ai được thánh hoá đều do một nguồn gốc. Vì thế, Người đã không hổ thẹn gọi họ là anh em" (Dt 2:11).

Trong tinh thần này, chúng ta cầu xin Chúa đồng hành cùng chúng ta trong suốt Thượng Hội Đồng này và hướng dẫn Giáo Hội của Ngài nhờ lời cầu bầu của Đức Trinh Nữ Maria và Thánh Giuse, người phối ngẫu khiết tịnh nhất của Mẹ.

----------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 9 of 25