mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay876
mod_vvisit_counterHôm Qua5693
mod_vvisit_counterTuần Này21597
mod_vvisit_counterTuần Trước36123
mod_vvisit_counterTháng Này85712
mod_vvisit_counterTháng Trước189436
mod_vvisit_counterTất cả8980792

We have: 120 guests online
Your IP: 54.225.16.58
 , 
Today: Aug 18, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Sống và Chia Sẻ Lời Chúa
SONG VA CHIA SE LOI CHUA-CN2MV-C = CON DUONG NOI TAM PDF Print E-mail

 

CHÚA NHẬT THỨ II MÙA VỌNG NĂM C (09/12/2012)]

[Br 5,1-9; Pl 1,4-6.8-11; Lc 3,1-6]

ĐGM Ngô Quang Kiệt

CON ĐƯỜNG NỘI TÂM

Bài Tin Mừng mở đầu thật long trọng khi nêu tên tất cả những vị lãnh đạo cao cấp thời đó. Từ Tibêriô, hoàng đế của đế quốc La mã, quyền uy phủ trên toàn thế giới thời ấy, đến Philatô, tổng trấn, đại diện cho hoàng đế cai trị nước Do Thái. Từ Hêrôđê, dù là

bù nhìn, cai trị miền Bắc, đến em ông cai trị miền Nam. Từ Anna đến Caipha cùng trong gia đình làm thượng tế nắm giữ quyền đạo Do Thái.

Tên tuổi những vị lãnh đạo cao cấp đầy quyền uy nói lên thực trạng của đất nước Do Thái thời đó: bị nô lệ. Chính vì thế, hơn bao giờ hết người Do Thái mong chờ Đấng Cứu Thế đến giải thoát dân Người. Chúa đã đến, không phải bằng con đường phô trương nhưng bằng con đường nội tâm. Thánh Gioan Baotixita hôm nay khi kêu gọi mở đường cũng nhắm đến con đường nội tâm. Chỉ những ai đi đường nội tâm mới gặp được Chúa. Qua lời rao giảng của Thánh Gioan Tiền Hô, đường nội tâm có những đặc điểm sau:

Đường nội tâm đi trong cô tịch.

Thật lạ lùng. Một chương trình cứu thế lớn lao như thế mà Chúa chẳng ngỏ lời với các vị lãnh đạo cao cấp uy quyền, nhưng lại ngỏ với Thánh Gioan Baotixita. Một chương trình lớn lao như thế không khởi đầu từ thủ đô đất nuớc nhưng lại phát xuất từ vùng hoang địa xa xôi.

Thực ra Chúa vẫn ngỏ lời với nhân loại. Nhưng tiếng Chúa nói âm thầm, sâu thẳm. Các vị lãnh đạo cao cấp sống trong ồn ào của đô thị phồn hoa, bị tiếng thét gào của đam mê, dục vọng, quyền lực lấn át, nên không nghe được tiếng Chúa. Thánh Gioan Baotixita nghe được tiếng Chúa nhờ đi vào con đường cô tịch. Sống ẩn thân nơi hoang địa. Chuyên chăm cầu nguyện trong tu viện. Bỏ ngoài tai tất cả những tiếng ồn ao thế tục. Chỉ khao khát lắng nghe Lời Chúa.

Nên đã gặp được Chúa và được biết chương trình cứu độ của Chúa.

Đường nội tâm đi trong đi trong khiêm nhường.

Chúa là Đấng vô cùng khiêm nhường. Chỉ những ai khiêm nhường mới gặp được Chúa. Các vị lãnh đạo uy quyền nói trên rất tự mãn. Tự mãn vì Tự mãn vì quyền uy bao trùm khắp mặt đất. Tự mãn vì dinh thự đền đài nguy nga. Tự mãn vì quần áo lụa sang trọng.

Tự mãn yến tiệc linh đình. Thánh Gioan Baotixita thật khiêm nhường. Khiêm nhường trong đời sống âm thầm nơi hoang địa. Khiêm nhường trong tu viện đơn sơ. Khiêm nhường trong thực phẩm tự nhiên rất đạm bạc: chỉ ăn châu chấu và mật ong rừng.

Khiêm nhường trong trang phục giản dị bằng da thú, chỉ có mục đích che thân. Khiêm nhường xưng mình chỉ là tiếng kêu trong hoang địa. Nhờ thế đã gặp được Chúa, được Chúa tuyển chọn trở thành người mở đường cho Chúa.

Đường nội tâm đi trong chiến đấu.

Không phải chiến đấu với người khác. Nhưng chiến đấu với chính mình. Cuộc chiến đấu

được Thánh Gioan Tiền Hô dùng lời tiên tri Isaia diễn tả trong việc sửa chữa con đường. Con đường là tâm hồn. Sửa chữa con đường vật chất tuy khó mà dễ. Sửa chữa con đường tâm hồn khó biết bao. Tâm hồn có những núi đồi kiêu ngạo tự mãn. Để sửa chữa phải bát núi đồi xuống. Phải cắt đi một phần tâm hồn không phải dễ dàng. Tâm hồn có những khúc quanh co, để uốn nắn lại phải vạt bớt chỗ quanh co. Gọt dũa tâm hồn đau đớn lắm. Từ bỏ mình là một cuộc chiến khốc liệt. Thắng được mình khó hơn thắng vạn quân.

Đời sống ta quá lo lắng bon chen nên thiếu chiều sâu nội tâm. Hôm nay ta hãy nghe lời Thánh Gioan Tiền Hô dạy, biết ăn năn sám hối trở về với Chúa. Biết rửa sạch tội lỗi.

Biết đổi mới tâm hồn bằng cuộc sống đi vào nội tâm. Tìm những giờ phút thanh vắng cô tịch để lắng nghe tiếng Chúa. Sống đơn sơ khiêm nhường để nên giống Chúa. Muốn được như thế ta phải chiến đấu để từ bỏ ý riêng. Chúa đã đến ở đầu đường. Ta chưa nhìn thấy chỉ vì con đường tâm hồn còn lồi lõm quanh co. khi nào ta cắt bỏ được hết những lồi lõm quanh co trong tâm hồn, ta sẽ được thấy Chúa.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1. Đường nội tâm có những đặc điểm nào? Cô tịch, khiêm nhường và chiến đấu, đặc điểm nào cần thiết nhất cho đời sống bạn hiện nay?

2. Thánh Gioan Tiền Hô có sống những lời Ngài rao giảng không?

3.Con đường nội tâm của bạn còn phải sửa chữa ở những đoạn nào? Có dễ không? Tại sao?

--

 

 

********************************************************************

 

 

VẮNG BÓNG

>

> Lm. Vũ Đình Tường


> Trước đây các phòng ốc trong bệnh viện, viện dưỡng lão đều treo Thánh giá. Ngày nay các bệnh viện công (trừ bệnh viện Công giáo) dường như không còn vết tích hình Thánh giá trên tường cao, đầu giường bệnh không còn hình Chúa, ảnh các Thánh.

>

> Vắng bóng đây là vắng bóng thập tự, vắng bóng Thiên Chúa, vắng dấu chỉ tình thương Chúa dành cho nhân loại. Những người đả kích Thiên Chúa giáo cố gắng vận động, phê bình, chỉ trích, bài bác Kitô giáo và họ thành công trong việc dời thánh giá khỏi nơi công cộng. Những nơi trước đây bóng thập tự là hình ảnh quen thuộc cho các tín hữu, ngày nay bóng thập tự bị dời đi. Nơi mà sự hiện hữu của Thánh giá cần nhất lại cũng là nơi khó tìm kiếm Thánh giá nhất. Trước đây khi đau khổ, cửa Nhà thờ là nơi họ thăm viếng đầu tiên. Ngày nay với khoa học, kĩ thuật cửa nhà thương thay thế cửa Nhà thờ. Khi cần có bác sĩ khẩn cấp, đau có thuốc mê giảm đau, buồn có chương trình truyền hình giải sầu. Cô đơn có nhân viên thiện nguyện thăm viếng và ngay cả giờ chết người ta cũng muốn 'điều đình' với tử thần. Đòi quyền chọn lựa cách chết êm dịu hay chọn cách chết tự nhiên.

>

> Với sự trợ giúp của khoa học, con người muốn quyền chọn lựa phái tính, kiểm soát mầm sống trước khi em bé được sanh ra và cho em tiếng nói trong việc chọn lựa cách chết. Người ta tìm mọi cách giúp con người sống lâu hơn, mạnh hơn, nhưng nói đến sự sống vĩnh cửu người ta lại chối bỏ, không tin và nhạo cười những ai tin vào sự sống vĩnh cửu. Khoa học bị giới hạn, tự bó tay khi tim ngừng đập, khi tế bào óc chết. Đó là giới hạn của khoa học. Nếu có đi sâu hơn nữa cũng chỉ là bảo tồn xác chết cho thế hệ sau nghiên cứu. Trái lại Kitô giáo ban niềm hy vọng sau khi chết. Chết là tái sinh trong Chúa, là trở về với Đấng tạo dựng. Chết là đi vào cuộc sống vĩnh cửu không còn hệ lụy đớn đau. Con người khoa học ham sống lại chối bỏ cuộc sống trường tồn, sống hạnh phúc Kitô giáo ban tặng. Chối bỏ vì khoa học bó tay khi tim ngừng, óc chết.

>

> BỆNH VIỆN

>

> Trước đây các phòng ốc trong bệnh viện, viện dưỡng lão đều treo Thánh giá. Ngày nay các bệnh viện công (trừ bệnh viện Công giáo) dường như không còn vết tích hình Thánh giá trên tường cao, đầu giường bệnh không còn hình Chúa, ảnh các Thánh. Một ngày nào đó, kẻ bài kích tôn giáo nghĩ đến sẽ đòi thay đổi dấu hiệu xe cứu thương. Nhân danh tục hoá họ muốn thay hình thập tự bằng hình con rắn nguyên hình, hiện thân của ma quỷ. Nếu dự đoán này biến thành sự thật thì những người nhân danh khoa học, và cấp tiến có cùng tư tưởng với dân Do Thái thời lưu đày trong sa mạc. Thời đó dân chúng khi gặp nguy, họ chạy đến nhìn rắn đồng mỗi khi bị rắn cắn để xin rắn đồng cứu chữa.

>

> MẤT MÁT

>

> Vắng bóng Thập tự trong bệnh viện, viện dưỡng lão là một mất mát lớn cho các Kitô hữu. Thiệt thòi tinh thần vì trong lúc thập tử nhất sinh hình ảnh Thập giá, hình ảnh cứu chuộc không gần kề. Hình ảnh nào nhắc nhớ khi bệnh nhân quằn quại trên giường bệnh, khi hơi thở thoi thóp, khi sức tàn, lực kiệt, khi xác thịt yếu liệt, sự sống gần cạn. Tâm linh không được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa ít ra cũng được nhắc nhớ bằng hình ảnh thánh thiện của các Thánh, của Mẹ Maria hay hình Chúa. Sức mạnh tâm linh nào giúp người bệnh chống lại các cơn cám dỗ trong giờ chết. Nếu thuộc kinh còn có thể đọc kinh, nguyện ngắm; nếu không thuộc kinh, khó biết làm gì trong lúc thân xác đau khổ. Hơn nữa ngay cả khi thuộc kinh; đớn đau dằn vặt hay thuốc mê, thuốc giảm đau làm tâm hồn mê man bệnh nhân tinh thần xuống thấp đến độ không tỉnh táo đủ biết mình đang nói gì, làm gì, ở nhà hay bệnh viện. Tình trạng đọc kinh nọ, xọ kinh kia, nói lên tinh thần mệt mỏi, thiếu sáng suốt. Hình Thập tự, ảnh tôn giáo không ít thì nhiều cũng đóng vai trò nhắc nhớ, làm nhiệm vụ gợi lên trong ta tình thương Chúa dành cho, gợi lên niềm tin, lòng mến và sự sống đời sau.

>

> ĐƯỜNG LỐI CHÚA

>

> Đức Kitô luôn đồng hành với mọi người, vui với người vui, buồn với người buồn. Ngài xuống thế chịu chung thân phận con người. Ngài chọn cuộc sống vui buồn, sướng khổ, gian lao, đầy đoạ để sống chung với mọi mọi tầng lớp, giai cấp trong xã hội. Ngài xuống thế để chia sẻ thân phận con người và thông cảm nỗi khốn khổ con người đang trải qua. Trái lại xã hội tục hoá, lại cổ võ hình ảnh trái ngược theo lối suy nghĩ của những kẻ ham vui, chuộng lạc thú. Họ đi tìm cái cười để xoa dịu khổ đau nhất thời, đi tìm cái vui giả tạo, kích thích nhờ vào rượu mạnh và thuốc, cộng thêm hình ảnh gợi cảm xúc và cho đó là niềm vui cần thiết cho đời sống. Tất cả những điều họ tìm kiếm đều chú trọng đến thân xác, coi nhẹ hoặc là quên tầm quan trọng của tâm linh.

>

> ĐƯỜNG LỐI XÃ HỘI

>

> Xã hội chúng ta đang sống là một xã hội đặt nặng vật chất, ăn chơi, thoả mãn thú vui thân xác và coi nhẹ tâm hồn. Người ta có thể không thích tôn giáo nhưng không thể chối bỏ nhu cầu cần thiết của tâm hồn. Biết nhu cầu tâm hồn, nên kẻ chống tôn giáo dụ dỗ bằng các cuộc vui, trò giải trí, sinh hoạt náo nhiệt. Bệnh viện nào cũng có chương trình TV vui nhộn giúp bệnh nhân giải trí. Thực tế hai hình ảnh trái ngược nhau. Một bên là bệnh nhân già nhăn nhó, chậm chạp, đeo dăm bảy lớp áo len; đối lại là hình ảnh trẻ trung, tươi cười, ăn mặc hở hang. Hình ảnh các em trẻ xinh đẹp, hồn nhiên, vô tư đối nghịch hình ảnh già nua, bệnh tật đè nặng bởi cuộc sống, tiền bệnh phí. Những hình ảnh trái ngược trên gợi lên một cái gì bấp bênh, nay còn mai mất, một thay đổi không thể tránh, một mất mát không thể cầm giữ và một nụ cười chóng tàn trên môi da mồi, nứt rẽ chân chim.

>

> Bệnh nhân cần một niềm vui thật sự, niềm vui bền lâu và một niềm hy vọng lớn lao giúp họ vượt qua được những đau khổ hay ít ra giúp họ hy vọng vào tình thương Chúa dành cho những kẻ tin cậy Ngài. Kitô giáo ban tặng niềm vui trường cửu và hy vọng không tàn phai. Nơi đâu Chúa xuống hàng thứ yếu thì việc giữ đạo tụt xuống ngoại hạng.

-----------------------------------------------
 
SONG VA CHIA SE LOI CHUA = CN2MV-C - GIOAN TAY GIA PDF Print E-mail

 

GIOAN TẨY GIẢ

VÀ NHỮNG ĐỐI NGHỊCH CỦA MÙA VỌNG

Chúa Nhật II Mùa Vọng C

(Baruch 5.1-9; Ps 126; Philippians 1.3-6,8-11; Luke 3:1-6)

________________________________________________

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

Giảng huấn của Gioan Tẩy Giả

1Vào năm thứ 15 triều đại hoàng đế Tiberius Caesar, thời Pontius Philate làm tổng trấn xứ Judea và Herod làm tiểu vương miền Galilee, người em là Philip làm tiểu vương miền Ituraea và Trachonitis, Lysanias làm tiểu vương miền Abilene, 2 trong lúc Annas và Caiaphas làm thượng tế, có lời Thiên Chúa phán cùng con ông Zechariah là Gioan trong hoang địa. 3Ông liền đi khắp vùng ven sông Jordan, rao giảng, kêu gọi mọi người chịu phép rửa, tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội, 4 như có lời chép trong sách ngôn sứ Isaiah rằng:

" Có tiếng người hô trong hoang địa:

Hãy sửa soạn đường của Đức Chúa,

sửa lối cho thẳng để Người đi.

5 Mọi thung lũng, phải lấp cho đầy,

mọi núi đồi, phải bạt cho thấp,

khúc quanh co, phải nắn cho ngay,

đường lồi lõm, phải san cho phẳng.

6 Rồi hết mọi người phàm

sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa."

(Lc 3:1-6)

******************************

Để nắm vững phần nào ý nghĩa bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay, chúng ta nên tìm hiểu sơ qua về thánh Luca và thánh Gioan Tẩy Giả.

CON NGƯỜI THÁNH LUCA

Trong bài Phúc Âm hôm nay, thánh sử Luca được Dante Alighieri gọi là kinh sư của Chúa Kito. Còn ngài thì gọi Gioan Tẩy Giả là ngôn sứ /tiên tri (Lc 3:2) theo kiểu trong Cựu Ước, và trích Isaiah (Mc 1:3), thêm Isaiah (40:4-5) vào tác phẩm của ngài (Lc 3:5-6) khi nói về Gioan. Làm như vậy thánh Luca muốn trình bày chủ đề của ngài về ơn cứu độ phổ quát mà ngài đã báo truớc qua lời của Simeon (Lc 2:30-32). Chúng ta thử cùng nhau coi lại những chi tiết lịch sử mà thánh Luca đã đưa ra trong câu chuyện ngôn sứ hôm nay để rồi suy niệm về công tác của Gioan Tẩy Giả.

Tiberius Caesar nối ngôi Augustus làm hoàng đế năm 14AD và trị vì cho đến năm 37AD. Như vậy năm thứ 15 của triều đại ông có thể là năm 27 hay 29AD. Pontius Pilate là tổng trấn xứ Judea từ năm 26AD đến 36AD. Sử gia Do Thái Josephus miêu tả ông là một tổng trấn thô lỗ và gian tham, ít để ý đến dân địa phương Do Thái và việc tôn giáo của họ (Lc 13:1). Vua Herod được nói đến là Herod Antipas, con Herod Đại Đế đã cai trị xứ Galilee và Perea từ năm 4BC đến 39AD.

Thánh Luca không những đã gọi tên Gioan Tẩy Giả theo nhiệm kỳ của những nhà lãnh đạo dân sự mà còn nhắc đến tên các thầy cả thượng tế Annas và Caiaphas là những vị lãnh đạo tôn giáo ở Palestine lúc bấy giờ. Annas làm thượng tế từ năm 6 đến15AD. Sau khi bị La Mã truất phế vào năm 15AD thì ngôi vị được những người trong cùng gia tộc tiếp tục và sau cùng thì người con rể là Caiaphas lên làm thượng tế từ năm 18 đến 36AD.

Dựa vào bối cảnh lịch sử đang xẩy ra lúc đó, thánh Luca để cho lời Chúa đến với Gioan trong hoang địa Judea.Thánh Luca là thánh sữ duy nhất đã gọi những lời giảng huấn của Gioan là tiếng kêu của Chúa. Do đó ngài đã đồng hóa Gioan với các ngôn sứ mà mục vụ của họ bắt đầu với cùng những tiếng kêu như vậy. Sau này, thánh Luca lại tách mục vụ của Gioan Tẩy Giả ra khỏi mục vụ của chúa Giêsu bằng cách kể việc Gioan bị cầm tù trước khi làm phép rửa cho Chúa (Lc 3:21-22). Luca dùng hình thức văn chưong như vậy là để nói lên cách hiểu biết của ngài về những thời kỳ lịch sử của ơn cứu độ. Với Gioan Tẩy Giả, thời điểm hứa và thời kỳ của Israel đã kết thúc. Với Chúa Giêsu chịu phép rửa và dấu hiệu Chúa Thánh Thần hiện xuống trên Người là thời điểm đã hoàn tất và thời kỳ của Chúa Giêsu đã bắt đầu.

Trong Sách Tông Đồ Công Vụ, tác phẩm thứ hai của ngài, Luca đã giới thiệu thời kỳ thứ ba của lịch sử ơn cứu độ là thời kỳ của giáo hội. Trong Tin Mừng Luca (Lc 7:26), Gioan được diễn tả còn "hơn cả một ngôn sứ", là người đi trước Chúa Giêsu (Lc 7:27) tức Gioan tiền hô, một hình ảnh chuyển tiếp mở đầu thời kỳ những lời tiên tri và lời hứa được ứng nghiệm.

Khi nói về sự chờ mong của muôn dân (Lc 3:15), thánh Luca đã diễn tả những đặc tính của thời điểm Gioan giảng huấn theo cùng một cách mà ngài đã diễn tả trước đó về tình trạng của một số người Do Thái nhiệt thành (Lc 2:25-26, 37-38). Trong Luca 3: 7-18, giảng huấn của Gioan Tẩy Giả được thánh nhân trình bày như thể thúc dục mọi người mau mau cải thiện, canh tân cuộc sống vì cơn thịnh nộ sắp xẩy đến (Lc 3: 7,9). Gioan còn chỉ cho họ cách thức canh tân đời sống, cải tạo xã hội (Lc 3:10-14), đồng thời báo cho mọi người biết có một đấng cao trọng hơn ngài rất nhiều sắp xuất hiện (Lc 3:15-18).

GIOAN TẨY GIẢ VÀ NHỮNG ĐỐI NGHỊCH CỦA MÙA VỌNG

Những tiên tri thực của Israel giúp chúng ta biết được những tiên tri giả, những hình thức tam sao thất bản. Thánh Gioan tiền hô là vị thánh quan thầy tuyệt hảo về sự chính xác. Biết bao nhiêu lần lời nói, tư tưởng và việc làm của chúng ta không đi đôi với nhau ! Phối hợp mọi biến cố với Gioan Tẩy Giả là cả một Mùa Vọng đầy những đối chọi nhau: Sự xuất hiện khải hoàn của Chúa rõ ràng là đã xẩy ra ngay trong thời đại đen tối, đầy tội lỗi, sự dữ và ma quỉ. Thánh Gioan Tẩy Giả đã nghe, đã sống và đã kinh qua lời giải thoát của Chúa trong sa mạc và vì vậy lời ngài giảng dạy cho mọi người sẽ có hiệu quả vì lẽ lời nói và việc làm của ngài luôn luôn đi đôi với nhau. Ngài không chau chuốt, bóng gió câu nói mà ngài nói thẳng. Thánh Gioan phá tan sự yên tĩnh nơi hoang địa với tiếng hô vang: "Hãy ăn năn thống hối, vì vương quốc nước trời đã đến gần." Không phải chỉ "ăn năn thống hối", "sửa đổi" cách sống mà phải "vừa ăn năn thống hối vừa sửa soạn cho vương quốc nước trời sắp đến". Vương quốc này sẽ phá vỡ mọi an toàn của chúng ta và lật đổ tất cả những gì chúng ta cố sức giữ lại. Vui mừng và thách đố của mùa Vọng là Thiên Chúa sẽ đến trong Đức Giêsu Kito; những đau đớn và khao khát Chúa đến sẽ được toại nguyện. Nhưng Thiên Chúa đến là gây xáo trộn.

Thông điệp của Gioan Tẩy Giả không có gì là ẩn ý chính trị, ngài đi thẳng vào vấn đề và nói ra những điều cần phải nói. Ngài nói trực tiếp với người đến hỏi ngài. Ngài biểu những người thu thuế hãy công bằng, những người lính hãy giữ an ninh và hòa bình.

Thánh Gioan Tẩy Giả đã chỉ dạy cho dân chúng thời của ngài và cả thời chúng ta là đấng Thiên Sai đến để giải cứu chúng ta khỏi mọi quyền lực giả trá, thất vọng, tối tăm và sự chết, đưa chúng ta trở lại đường ngay nẻo chính của hòa bình và hòa giải hầu chúng ta có thể tìm ra được con đường trở lại với Chúa. Cuộc sống và sứ mệnh của thánh Gioan Tẩy Giả cho chúng ta thấy quả thực chúng ta quá cần đấng CứuThế đến để cứu chuộc chúng ta, để chúng ta xứng đáng với những danh hiệu mà Chúa đã gọi và những gì chúng ta đã làm để được sống trong Sự Sáng. Chúng ta đã thường xuyên không nhận ra giữa chúng ta có một đấng là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Đây là tất cả những gì mà mùa Vọng nhắc nhở chúng ta: Hãy tìm kiếm con đường trở lại với Chúa.

CẢI ĐỔI NHỮNG SA MẠC HOANG VU TRONG CHÚNG TA

Mùa Vọng là một mầu nhiệm có mục đích cải đổi chứ không phải chỉ là báo tin. Mùa Vọng là hiện thân của đối nghịch giữa chờ đợi và hối hả, giữa đau khổ và vui mừng, giữa kết án và giải thoát, giữa nỗi sầu muộn khải huyền và hy vọng ngày cánh chung. Nhưng buồn thay, đối với nền văn hóa ăn liền, muốn thỏa mãn ngay lập tức của chúng ta, hy vọng lại đòi hỏi cái gì bất toàn. Hy vọng, theo nghĩa của Mùa Vọng thực, là sống với một ao uớc chưa hoàn thành.

Thiên Chúa là kỹ sư xa lộ, sẽ làm những con đường mới xuyên qua hoang địa, là người làm vườn biến đổi sa mạc thành những vườn hoa đầy màu sắc tươi đẹp, nay trở thành người họa sĩ vẽ nên một viễn tượng mới về lời hứa của một đấng thiên sai thời cỗ xưa là HY VỌNG. Hy vọng vào Thiên Chúa thì không thể đứng yên tại chỗ, bởi lẽ, như tiên tri Isaiah đã nhắc nhở chúng ta, chúng ta phải hy vọng vào Chúa là đấng luôn luôn làm điều mới lạ. Niềm hy vọng vào Chúa của chúng ta có đứng vững trước những xáo trộn và thất bại không? Chúng ta sống Lời Chúa ra sao? Chúng ta sống thinh lặng với Chúa như thế nào?

Mùa Vọng chỉ cho chúng ta biết nếu chúng ta giữ cho tâm hồn lắng đọng đủ, chúng ta sẽ khám phá thấy Thiên Chúa vẫn còn thiết lập những xa lộ và biến những nơi hoang vu của cuộc sống chúng ta thành những mảnh đất phì nhiêu đặc biệt, đầy sức sống và vẻ đẹp mỹ miều mà chúng ta không thể tưởng tượng ra được. Nên nhớ, mọi biến cải trong sa mạc hoang vu đều cần có nước. Trong suốt cựu ước, thiên chúa đã được nói đến là đấng có thể ban cho nước và cắt bỏ nước, một hình ảnh dễ hiểu đối với những người mà nước là một nhu cầu quí báu không thể thiếu. Còn chúng ta, it ngưòi hiểu được thế nào là hạn hán ở một thế giới xa xưa lúc mà khoa học kỹ nghệ tân tiến chưa có. Ngày nay nước được dẫn vào tận nhà bằng ống dẫn quá dễ dàng đã khiến chúng ta không có được hình ảnh về Thiên Chúa là đấng mà đời sống và cuộc đời của chúng ta không thể có được nếu thiếu Người. Cũng tương tự như vậy, điện cho ta cái ảo tưởng là ta điều khiển được bóng tối. Cả hai thứ ấy đã không cho ta cái kinh nghiệm hàng ngày về những nhu cầu sống mà Mùa Vọng đang kêu gọi chúng ta suy nghĩ lại để thấy là chúng ta vẫn phụ thuộc vào Thiên Chúa, duyệt xét lại những ước mơ chúng ta muốn có Chúa, để rồi khám phá ra rằng qua những đêm dài chờ đợi, việc Chúa đến quả là cần thiết.

Thông điệp Mùa Vọng không có nghĩa là tất cả mọi sự đều tan vỡ, cũng như Chúa không phải chỉ ở trên thiên đàng và, do đó tất cả mọi sự đều tốt đẹp ở thế gian này. Đúng ra thông điệp Mùa Vọng ví như mọi vì sao nằm cố định trên một địa bàn luân lý nếu bị rung rinh thì tất cả mọi sự trên mặt đất này đều bị xáo trộn, lúc đó một lần nữa chúng ta lại nghe thấy sứ điệp của thánh Gioan tiền hô:

"Hãy sửa soạn đường cho Chúa, lối quanh co nắn cho thẳng, thung lũng xâu lấp cho đầy, núi đồi cao phạt xuống cho thấp, đường lồi lõm phải san cho đều, và rồi hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa."

Tuy nhiên với Chúa Giêsu giáng sinh, chúng ta học được bài học là Jerusalem và Israel vẫn còn chờ đợi ơn cứu chuộc. Thế giới vẫn còn chờ mong giải thoát khỏi đói kém, chiến tranh, áp bức, bạo lực, truy nã và đau khổ. Tất cả chúng ta còn phải mong đợi ơn cứu chuộc. Mùa Vọng thách đố chúng ta nhìn vào cách chúng ta chờ mong, cách chúng ta ao ước Thiên Chúa và cách chúng ta hy vọng. Ai và cái gì là suối nguồn hy vọng trong mùa Vọng này?

Cuộc sống của Gioan Tẩy Giả có thể được tượng hình là một ngón tay chỉ vào đấng đang tới là Đức Giêsu Kitô. Nếu chúng ta coi nhiệm vụ của Gioan là sửa soạn đường đón Chúa cho thế giới ngày nay, thì cuộc sống của chúng ta cũng phải trở nên những ngón tay chứng nhân sống động chứng minh Chúa Giêsu có thể tìm ra được và Người đang tới gần rồi. Chúa Giêsu chính là người hoàn chỉnh mong ước, hy vọng và đợi chờ của chúng ta. Một mình chúa Giêsu có thể cải đổi cuộc sống sa mạc của chúng ta thành những vườn hoa tươi đẹp, đầy dẫy của nuôi cho toàn thể thế giới.

Lạy Chúa Giêsu, xin Chúa hãy đến. Chúng con cần Chúa bây giờ hơn bao giờ hết!

 
SONG VA CHIA SE LOI CHUA- CN 2 MV - C PDF Print E-mail

 

          GỢI Ý SUY NIỆM LỜI CHÚA- CN2MV-Năm C

                                “HÃY DỌN ĐƯỜNG CHO CHÚA”

   *Mời cac Gia đình-Quý chức-Nhóm-Hội đoàn-Phong trào cùng dành thì giờ chia sẻ Lời Chúa theo Công Đồng Vatican II và Giáo hội mời gọi :

* Công Đồng muốn Lời Chúa được trao gởi đến mọi Kitô hữu thuộc mọi thời đại, mọi ngôn ngữ. (Hiến Chế Mạc Khải # 22)

* Lời Chúa là Bánh Sự Sống, cho mọi Kitô hữu, song song với việc họ được nuôi dưỡng từ bàn tiệc Thánh Thể. (Mạc Khải # 21)  

A/ Cảm nghiệm Sống và chia sẻ ba bài đọc sau: (Reflections&Share)

Bài đọc 1: Ba-rúc (5:1-9). “Bình an xây dựng trên công chính,” “vinh quang phát xuất từ lòng kính sợ Thiên Chúa.” (câu 4)

1/ Tôi có bình an trong tâm hồn là nhờ xây dựng trên căn bản nào?

2/ Nhờ đâu mà gia đình bạn luôn được an vui, êm ấm và hạnh phúc.?

Bài đọc 2: Philipphê (1:4-6;8-11). “Tôi cũng xin anh được nên tinh tuyền và không làm gì đán g trách…”   (câu 10)

1/ Thánh Phaolô đã khuyên răn tôi những gì để chờ ngày quang lâm?

2/ Bạn cần tu luyện mỗi ngày thế nào để chứng tỏ mình Tín hữu thật?

Tin Mừng: Luca (3:1-6). Ông Gioan nói: “Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi.”  (câu 4)

1/Tiên tri Isaia cho biết cách rao giảng của ông Gioan như thế nào?

2/ Mỗi năm Mùa Vọng tới, bạn đã quyết tâm tập được mấy nết tốt ?

3/ Ông Gioan muốn bạn và tôi đi tới những nơi nào để nói về Chúa ?

B- Câu Kinh Thánh thúc đẩy tôi chọn Sống tuần này:      

MỌI THUNG LŨNG PHẢI LẤP CHO ĐẦY, MỌI NÚI ĐỒI PHẢI BẠT CHO THẤP.  (Lc 3, 5)         

1/ Tôi hãy bỏ ngay những bất công trong gia đình, giáo xứ, và xã hội.

2/ Bạn nên hàn gắn lại những gì làm người khác buồn rầu, bỏ cuộc.               

C- Bạn và tôi cùng cầy nguyện và Sống Cầu nguyện: (Pray in Action)

Lạy Cha, ông Gioan đã đi khắp vùng ven sông Gio-đan rao giảng, với một giọng cương quyết giúp mọi người thay đổi thật sự để gặp Chúa. Con quyết nghe tiếng Chúa và noi gương ông Gioan bằng hành động, để đem Lời Chúa đến cho mọi người trở về với Chúa.

 

Lời hay ý đẹp:   CHÚA NÓI VỚI NHỮNG AI SẴN SÀNG NGHE NGÀI

                        ( God speaks to those are willing to hear Him)

                    " Chúa phải được lới lên, còn tôi nhỏ đi  ". (Ga 3, 30)

                                 Ptế : GB Maria Định Nguyễn/Huyền Đồng

 ducme5

 
SONG VA CHI SE LOI CHUA - CN1 MV - C = NGAY CUA CHUA PDF Print E-mail

Giesu3   * CẢM TẠ QUYỀN NĂNG CỦA CHÚA THÁNH LINH, THƯỢNG ĐẾ TOÀN NĂNG ĐÃ SOI DẪN QUÝ ĐỘC GIẢ TỪ BỐN PHƯƠNG TRỜI, TRÊN TOÀN THẾ GIỚI ĐẾN THĂM VIẾNG WEBSITE WWW.CHIASELOICHUA.COM MỚI RA ĐỜI ĐƯỢC MỘT NĂM NAY: TỪ THÁNG 12-2011 ĐẾN 12-2012 VỚI 180,195 LƯỢT NGƯỜI VÀO ĐỌC LỜI CỦA THIÊN CHÚA, LỜI CỦA THẦN KHÍ, LỜI BAN SỰ SỐNG VÀ NHỮNG BÀI VỀ HỌC HỎI GIÁO LÝ, VĂN HÓA VÀ ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH...

   * XIN MỜI QUÝ ĐỘC GIẢ CÙNG ĐỨC MARIA CẤT TIẾNG TUNG HÔ CHÚA : "LINH HỒN TÔI NGỢI KHEN CHÚA, VÀ LÒNG TÔI HỚN HỞ MỪNG RỠ TRONG THIÊN CHÚA ĐẤNG CỨU CHUỘC TÔI." ( Luca 1, 46)

                                                        ====*****====

 

                    Sống và chia sẻ Lời Chúa – CN 1 MV – NĂM C

                                              “ NGÀY CỦA CHÚA”                  

                       NGÀY ĐÓ NHƯ MỘT CHIẾC LƯỚI

 

A- Cảm nghiệm Sống và chia sẻ ba bài đọc sau: (Reflections &share)

Bài đọc 1: Giê-rê-mi-a (33:14-16). Đây là tên người ta đặt cho thành: “Đức Chúa là sự công chính của chúng ta.” (câu 16)

1/ Tôi đã sống thế nào để xứng đáng là sự công chính khi Chúa đến?

2/ Kể những việc lành bạn làm hôm nay cho gia đình và giáo xứ?

Bài đọc 2: 1 Thêxalônica (3:12—4:2). Vậy nhân danh Chúa Giêsu, chúng tôi xin và khuyên nhủ anh hãy tấn tới nhiều hơn.” (4:1)

1/ Tình thương của tôi trong gia đình và bạn hữu có khá hơn không?

2/ Bạn đang sống xứng đáng với ơn gọi của mình hôm nay thế nào?

Tin Mừng: Luca (21:25-28;34-36). “Người ta sợ đến hồn xiêu phách lạc, chờ những gì sắp giáng xuống địa cầu...” (câu 26)

1/ Những trận bão lớn và sóng thần xảy ra gần đây đã báo hiệu gì?

2/ Tại sao bạn quá sợ trước những cảnh biển gào sóng thét sẽ xãy ra?

3/ Hãy chia sẻ những điều giúp tôi đứng vững trong ngày Chúa đến?

B- Chúa muốn nói gì với tôi?- Tôi lắng nghe và nói với Chúa:     

1- Chúa giữ đúng lời Giao ước: Ông Giêrêmia tiên báo là Thiên Chúa muốn bảo đảm với mọi người rằng, Ngài sẽ thành tín hoàn tất những điều Ngài đã hứa. Tất cả những lời hứa của Ngài đều nhắm đến sự cứu chuộc dành cho mọi dân tộc, chứ không riêng ai: “Nhờ ngươi, mọi dân tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc. (St 12,3)       

* Muốn được Chúa cứu trong ngày sau hết tôi cần sống công bằng, bác ái, tránh bè đảng và bất công, ghen tương và trach chấp. Tôn trọng sự khác biệt của nhau trong gia đình và cộng đoàn, luôn gây hoà thuận và hiệp nhất, không hận thù, không chia rẽ. Vì trong những ngày ấy, người sẽ trị nước theo công bằng chính trực. (Gr 33,16)

2- Hãy bền tâm vững chí: Thánh Phaolô đã dùng những lời khuyên Tín hữu rất nhẹ nhàng, thân thiết như: anh hãy có một tình yêu thương đậm đà thắm thiết như ông đã làm. Như vậy, anh sẽ có một tấm lòng kiên nhẫn chịu đựng và tha thứ cho nhau. Đây chính là con đường dẫn anh đến niềm vui mừng trong ngày Chúa đến.

* Bạn đã xử sự thiếu cởi mở người chung quanh, thiếu hiền từ nhẫn nại, và nhiều lúc nóng nảy bực tức. Tôi cần hoà nhã, tươi cười mỗi khi mỗi khi cất tiếng nói năng, cần cử chỉ dịu dàng và khiêm tốn, cần giữ thái độ bình tĩnh trước phản ứng cộc cằn của người khác. Đó là những đức tính tốt lành thánh thiện làm hành trang đón Chúa đến.

3- Sẽ có các điềm báo- Hãy tỉnh thức! Chúa Giêsu nói rõ: sẽ có những điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng, sẽ có biển gào sóng thét, vũ trụ sẽ rung chuyển, và mọi người sẽ vô cùng sợ hãi. Chúa Giêsu còn cảnh cáo thật quyết liệt hơn nữa: anh em phải đề phòng, không ăn uống nhậu nhẹt, không chơi bời, tham mê của cải thế gian…

* Đức Giêsu còn mạnh mẽ cảnh cáo: Ngày Chúa đến có thể bất ngờ như cáí lưới chụp xuống mọi người trên mặt đất. Chúa cũng cho một phương cách đề phòng là tôi phải tỉnh thức và cầu nguyện không ngừng. Đó là thực thị những điều Thiên Chúa nói trong bài đọc 1 và thánh Phaolô khuyên tôi nhẹ nhàng nhưng cấp bách trong bài đọc 2.

 

C- Câu Kinh Thành đánh động tôi chọn Sống tuần này:

   ANH EM HÃY TỈNH THỨC VÀ CẦU NGUYỆN LUÔN

           Be vigilant at all times and pray. /   (Lc 21, 36)

1/ Tôi xử sự công bằng và bao dung trong Gia đình và Cộng đoàn.

2/ Bạn bỏ dần ăn uống say sưa và tránh đam mê, lo lắng sự đời quá.

D- Bạn và tôi cùng Cầu nguyện & Sống Cầu nguyện: (Pray in Action)

Lạy Cha. Đức Giêsu đã nói: “Anh chớ để lòng mình mình ra nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời…” Con nghe tiếng Chúa , quyết tâm bỏ con đường cũ, để sống thanh tịnh, tâm sự, gặp gỡ Chúa không ngừng bằng những việc làm cụ thể, để mọi người nhận thấy Chúa đang đến trong thế giới nhiều biến chuyển hôm nay

 

Lời hay ý đẹp:   CÀNG MONG NGÓNG THIÊN ĐÀNG, BẠN CÀNG BỚT HAM MÊ TRẦN THẾ./ The more you look forward to heaven, the less you’ll…

 

Cùng gởi các Nhóm, Đoàn thể, Phong Trào say mê học hỏi, chia sẻ Lời Chúa để sống đúng tinh thần Mùa Vọng là: Tỉnh thức và cầu nguyện không ngừng.

                   Phó tế: GB Nguyễn Văn Định * This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it

 

 

 

 
SONG VA CHIA SE LOI CHUA-LE CHUA KITO VUA PDF Print E-mail

VƯƠNG QUYỀN TRÊN THÁNH GIÁ VÀ TRONG CHÂN LÝ

SUY NIỆM PHÚC ÂM ( Jn 18, 33 - 37 )

CHÚA NHẬT LỄ CHÚA KI TÔ VUA VŨ TRỤ, NĂM B

NGUYỄN HỌC TẬP

Có lẽ không mấy người trong chúng ta biết là ngày lễ long trọng mừng Lễ Chúa Giêsu Vua, được Đức Giáo Hoàng Pio XI thiết lập năm 1925, với mục đích tương đối hóa hai biến cố đánh dấu đặc biệt tình trạng chính trị lúc đó:

- cuộc cách mạng Cộng Sản ở Nga 1919 được người Cộng Sản rầm rộ tuyên bố là " vĩ đại "

- và cuộc chiến thắng khải hoàn tràn vào Roma ( Marcia su Roma) của phe Phát xít Ý, do Benito Mussolini lãnh đạo.

Hai ý thức hệ độc tài , phi nhân bản và phi dân chủ đó được Đức Pio XI đặt dưới chân Chúa Giêsu Vua vũ trụ, Chủ Nhân của dòng lịch sử và Vị lãnh đạo duy nhứt của vũ trụ. Mọi quyền năng đều phát xuất từ Thiên Chúa, " Omnis potestas a Deo".

a ) Đoạn Phúc Âm Chúa Nhật hôm nay, mừng Lễ Chúa Ki Tô Vua, được Thánh Bộ Phụng Tự trích từ Phúc Âm Thánh Gioan ( Jn 18, 33-37), mang ý nghĩa đặc biệt và cho chúng ta một cái nhìn chính xác về ý nghĩa vương tước của Chúa Giêsu.

Đoạn Phúc Âm mà chúng ta đọc hôm nay trong Thánh Lễ tường thuật lại phiên toà Pilato hỏi khẩu cung Chúa Giêsu, sau khi Người bị dân Do Thái, các kinh sư và kỳ mục bắt nộp cho quan tổng trấn Roma.

Điểm đặc biệt của Phúc Âm Thánh Gioan là tuyên vương tước của Chúa Giêsu ngay trong giai đoạn Chúa Giêsu bị khổ nạn. Và những lời tuyên vương Chúa Giêsu của Thánh Gioan đạt đến điểm cao độ nhứt, khi Chúa Giêsu bị đóng đinh và chết trên thánh giá.

Trong đoạn Phúc Âm tường thuật lại cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu mà chúng ta đang suy niệm,, Thánh Gioan đã lập đi lập lại đến 12 lần tước hiệu vương tước," Vua" của Chúa Giêsu, trong số 16 lần được Ngài đề cập đến trong cả Phúc Âm.

Vương tước của Chúa Giêsu trước khi bị đóng đinh vào thánh giá.

Trước những câu hỏi của quan Tổng Trấn Pilato, Chúa Giêsu trả lời bằng hai câu nói rất có ý nghĩa, một dưới hình thức phủ quyết và một dưới hình thức khẳng định.

Pilato hỏi Ngài:

- " Ông có phải là vua dân Do Thái không?"

- " Ngài tự mình nói điều đó hay những người khác nói với Ngài về tôi?".

- " Tôi là người Do Thái sao? Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi. Ông đã làm gì?" ( Jn 18, 33-35).

Và đây là câu trả lời phủ quyết của Chúa Giêsu:

- " Nước tôi không thuộc về thế gian nầy. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian nầy, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu, không để tôi bị nộp cho người Do Thái. Nước tôi không thuộc về chốn nầy" ( Jn 18, 36).

" Nước tôi không thuộc về thế gian nầy…Nước tôi không thuộc về chốn nầy" là những câu nói xác quyết về phương thức hành động và về nơi chốn.

Với những câu nói vừa kể, Chúa Giêsu có ý nói cho Pilato Ngài là Vua, nhưng không có ý hành xử để bảo vệ lãnh thổ của Do Thái cũng như hành xử để bảo vệ quyền lực, địa vị và mục đích nhằm chiếm đoạt lợi lộc trần gian bằng mọi cách và mọi thủ đoạn, kể cả những phương thức hành xử độc ác, thô bạo và chết chóc, chiến tranh, như phương thức các vua chúa trần gian đã làm:

- " …Nếu Nước tôi thuộc về thế gian nầy, thuộc hạ tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do Thái…" ( Jn 18, 36).

Phương thức của Ngài không phải là phương thức dùng bạo lực, để chiếm đoạt và cũng cố những gì thuộc về trần gian vừa kể. Đó chính là thái độ, Chúa Giêsu đã chứng minh trước đó không lâu, được Thánh Gioan thuật lại, khi dân Do Thái và các thượng tế đến bắt Ngài:

- " Ông Simon Phêrô có sẳn một thanh gươm, bèn tuốt ra, nhằm người đầy tớ vị thượng tế mà chém đứt tai của y…Chúa Giêsu bảo ông Phêrô: Hãy xỏ gươm vào bao. Chén mà Chúa Cha đã trao cho Thầy, lẽ nào Thầy chẳng uống" ( Jn 18, 10-11).

Cũng cùng trong một biến cố, Thánh Matthêu thuật lại một cách rỏ ràng hơn:

- " Một trong những người theo Chúa Giêsu liền vung tay tuốt gươm ra, chém phải tên đầy tớ của thượng tế, làm nó đứt tai. Chúa Giêsu bảo người ấy: Hãy xỏ gươm vào vỏ , vì tất cả những ai cầm gươm sẽ chết vì gươm. Hay anh tưởng là Thầy không thể kêu cứu với Cha Thầy sao? Người sẽ cấp ngay cho Thầy hơn mười hai đạo binh thiên thần " ( Mt 26, 51-53).

Nói tóm lại, Chúa Giêsu là Vua. Nhưng Nước của Ngài không liên hệ với các lãnh thổ ở trần gian, không liên hệ đến mục đích nới rộng biên cương, thu tóm quyền thế, tài sản và địa vị bằng mọi giá như vua chúa trần gian, và phương thức hành động của Ngài cũng không phải là dùng bạo lực, chiến tranh, giết chóc, đạp đổ gây đổ vở, tan tóc như cách hành xử của vua chúa trần gian.

Hiểu được sự khác biệt đó, quan tổng trấn Pilato hỏi lại Chúa Giêsu:

- " Như vậy ông là vua sao?" ( Jn 18, 37).

Và đây là câu trả lời khẳng định:

- " Chính ông đã nói phải, tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích nầy: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi " ( Jn 18, 37).

Câu nói: " Tôi đã sinh ra và đến thế gian nhằm mục đích nầy: làm chứng cho sự thật" là câu xác quyết cho những gì Thánh Gioan tuyên bố ở Lời Tựa của Phúc Âm Ngài:

- " Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi cho mọi người…Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và chân lý" ( Jn 1, 9.14).

Như vậy Chúa Giêsu là Ngôi Lời, là Con Một Thiên Chúa, là Thiên Chúa như lời xác quyết của Thánh Gioan ở Lời Tựa Phúc Âm:

" Từ nguyên thũy đã có Ngôi Lời.

Ngôi Lời vẫn ở nơi Thiên Chúa ( apud Deum),

Và Ngôi Lời là Thiên Chúa" ( Jn 1,1).

Chúa Giêsu là Ngôi Lời Thiên Chúa, là Thiên Chúa, đến trong thế gian " …trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta…", để " …làm chứng cho sự thật", không phải chỉ bằng những lời giảng dạy và hành động của Ngài mà Phúc Âm thuật lại cho chúng ta, mà còn bằng chính con người của Ngài:

- " Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi cho mọi người" ( Jn 1, 9).

Nói cách khác, Chúa Giêsu là Thiên Chúa đến ở giữa chúng ta để mạc khải chính Thiên Chúa cho con người và địa vị cao cả của con người cho con người và cứu rỗi con người, "…để làm chứng cho sự thật".

Thiên Chúa là chân lý, là sự sống và là con đường dẫn con người đến sự sống.

Do đó không ai ngoài Thiên Chúa ra, nếu không phải là Thiên Chúa, có thể tự tuyên xưng mình như Chúa Giêsu:

- " Ông Tôma hỏi Chúa Giêsu: Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường? Chúa Giêsu đáp: Đường, sự thật và là sự sống, chính là Thầy" ( Jn 14, 6).

Và cũng trong câu khẳng định của Chúa Giêsu với Pilato, Người không chỉ giới hạn xác nhận vương tước của Ngài, " chính ông đã nói phải, tôi là vua…", như là một tước vị cao cả, qúy phái, đài các nhưng bất động, đúng hay sai cũng được, có hay không cũng được, không liên hệ gì đến ai.

Chúa Giêsu không những là Vua, mà Ngài còn là Vua "được sinh ra và đến trong thế gian để làm chứng cho sự thật ".

Sứ mạng của Ngài " được sinh ra và đến trong thế gian để làm chứng cho sự thật" vừa kể

đòi buộc thái độ hành xử phải có của những ai muốn thuộc vào vương quốc của Ngài:

- "…ai đứng về phía sự thật, thì nghe tiếng Ta " ( Jn 18, 37).

Nói cách khác, ai muốn thuộc về vương quốc của sự sống và chân lý, của Đấng tuyên xưng mình

- " đường, sự thật và là sự sống chính là Thầy",

phải biết lắng nghe, tiếp nhận đem ra thực hành những gì Người dạy bảo, bước theo con đường của Người đi dù có chông gai, như có lần Người đã dạy chúng ta:

- " Ai không đi qua cửa mà vào ràn chiên, nhưng trèo qua lối khác mà vào, người ấy là kẻ trộm cướp. Còn ai đi qua cửa mà vào, người ấy là mục tử. Người giữ cửa mở cho anh ta vào, và chiên nghe tiếng của anh; người gọi tên từng con, rồi dẫn chúng ra. Khi đã cho chiên ra hết, anh đi trước và chiên theo sau, vì chúng biết tiếng anh" ( Jn 10, 1-4).

Nói tóm lại, ai muốn thuộc về vương quốc của sự sống và chân lý phải biết " …đứng về phía sự thật ", biết lắng nghe và sống theo chân ly, hành xử theo công chính như lời Người dạy:

- " Phúc cho ai bị bách hại, vì sống công chính,

Vì Nước Trời là của họ" ( Mt 5, 10).

b ) Ngôi Lời Thiên Chúa là Vua không phải của trần gian nầy, là Vua của chân lý và kỳ vọng ở những ai muốn thuộc vào vương quốc Ngài phải "…đứng về phía sự thật".

Nhưng Ngôi Lời Thiên Chúa cũng là Vua trên thánh giá, vì chính trên thánh giá, chân lý mà Ngài đến để làm chứng được minh chứng tỏ rạng hơn bất cứ ở nơi nào khác.

Đối với các tác giả Phúc Âm khác, Matthêu, Marco và Luca, Chúa Giêsu được vinh quang trong niềm vui chiến thắng tử thần và tội lỗi ngày Phục Sinh. Thời gian chịu đau khổ tử nạn là thời gian Ngài khiêm nhường, hạ mình xuống chịu sĩ nhục và chịu chết như một người nô lệ.

Trái lại, đối với Phúc Âm Thánh Gioan, vinh quang của Chúa Giêsu chiếu rạng tột đỉnh ngay lúc Người chịu án chết khổ nhục trên thập giá.

Từ những chương Phúc Âm trước phần tường thuật lại cuộc tử nạn của Chúa Giêsu, Thánh Gioan đã tiên báo sự vinh quang của Chúa Giêsu trên thập giá:

- " Khi các ngươi giương cao Con Người lên, bấy giờ các người sẽ biết Ta là Đấng Hằng Hữu, và biết Ta không tự mình làm bất cứ điều gì, nhưng Chúa Cha đã dạy Ta thế nào, thì Ta nói như vậy. Đấng đã sai Ta vẫn ở với Ta" ( Jn 8, 28-29).

Và khi Ngài bị giương cao trên thập giá, là lúc Ngài chứng minh cho mọi dân tộc biết chân lý mà Ngài đến để làm chứng, mạc khải Thiên Chúa cho con người và địa vị cao cả của con người cho chính con người và đem tình thương của Thiên Chúa đến để cứu rỗi con người. Mạc khải thượng đỉnh của tình thương đó trên thập giá làm mọi dân tộc sẽ biết Ngài và biết Chúa Cha:

- " Phần Ta, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, Ta sẽ kéo mọi người đến với Ta. Chúa Giêsu nói thế để ám chỉ Người sẽ phải chết thế nào" ( Jn 12, 32-33).

Hiểu được niềm tin đó của Thánh Gioan, chúng ta sẽ hiểu được tại sao chỉ trong đoạn tường thuật về cuộc tử nạn của Chúa Giêsu, Thánh Gioan đã đề cập đến 12 lần vương tước của Chúa Giêsu, Chúa Giêsu là Vua, trong tổng số 16 lần trong cả Phúc Âm của Ngài.

Và tột đỉnh của niềm tin Chúa Giêsu chiếu rạng vinh quang cao cả của Ngài trên thập giá, khi Thánh Gioan tường thuật lại việc Pilato truyền cho viết một bản tuyên vương Chúa Giêsu:

- " Giêsu Nazareth, Vua dân Do Thái " ( Jn 19, 19).

Bản chữ viết trên, được Thánh Gioan xem như là bản xác nhận tuyên vương của Pilato, được viết bằng ba thứ tiếng Do Thái, Hy Lạp và La Tinh, nói lên tính cách phổ quát của vương quyền Chúa Giêsu từ nay được mọi người biết đến, nhứt là qua chữ viết La Tinh, ngôn ngữ của đế quốc Roma rộng lớn mênh mông lúc đó.

Dĩ nhiên người Do Thái lúc đó không thể chịu được câu nói " trịch thượng" đó của Pilato, nên họ phản đối:

- " Xin ngài đừng viết: "Vua Do Thái", nhưng hãy viết " Tên nầy đã nói: Ta là Vua dân Do Thái" ( Jn 19, 21).

Câu trả lời của Pilato chứng tỏ là câu trả lời của một kẻ quyết liệt dùng quyền lực mình và coi thường nguyện vọng của đám dân Do Thái bị trị.

Nhưng dưới cái nhìn của Thánh Gioan, câu nói uy quyền của Pilato:

- " Quod scripsi, scriptum !" ( Điều gì tôi đã viết, là đã viết) ,

phải giữ nguyên như vậy, là câu xác quyết tuyên vương tột đỉnh bằng ba thứ tiếng cho mọi người biết.

Chúa Giêsu chịu khổ nạn và chết đi trên thập giá là Chúa Giêsu

" được sinh ra và đến trong thế gian để làm chứng cho sự thật"

ở phần tột đỉnh của sứ mạng của Ngài, lúc mạc khải cho mọi người trên thập giá, bằng ba ngôn ngữ thịnh hành lúc đó, Do Thái, Hy Lạp và La Tinh.

Đem mạng sống mình để chứng minh cho sự thật là ngôn sứ và nhân chứng tuyệt đỉnh. Như vậy chân lý trên thánh giá toả chiếu vinh quang tuyệt đỉnh của mình, không còn bị mây mù của dối trá, lường gạt, ẩn ấp che dấu.

Sự mạc khải đó từ nay sẽ được loan báo cho mọi người.

Và từ lúc đó không ai có thể xoá đi những gì đã viết về Ngài:

- " Phần Ta, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, Ta sẽ kéo mọi người đến với Ta" (Jn 12, 32).

- " Quod scripsi, scriptum !": ( Điều gì tôi đã viết, là đã viết ) .

 
<< Start < Prev 121 122 123 124 125 126 127 128 Next > End >>

Page 122 of 128