mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay7532
mod_vvisit_counterHôm Qua9190
mod_vvisit_counterTuần Này55659
mod_vvisit_counterTuần Trước62721
mod_vvisit_counterTháng Này186368
mod_vvisit_counterTháng Trước193615
mod_vvisit_counterTất cả12780291

We have: 112 guests online
Your IP: 34.229.175.129
 , 
Today: Feb 23, 2019

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Cảm Nghiệm Sống Lời Chúa
CAM NGHIEM SONG LOI CHUA # 116= MU LOA TAM LINH PDF Print E-mail

30th Sunday in Ordinary Time
R. I: Jeremiah 31:7-9 II: Hebrews 5:1-6; Mark 10,46-52

Chúa Nhật 30 Thường Niên : TÔI MÙ LÒA THỂ XÁC ? - BẠN MÙ LÒA TÂM LINH ?
Bài Đọc I: Giêrêmia 31:7-9 II: Do Thái 5:1-6; Mc 10,46-52

Interesting Details

· (v.46) The end of the road is near. Jericho is 15 miles from Jerusalem, where Jesus will enter into his passion and death. Jericho at the time would be crowded with pilgrims on their way to celebrate Passover in Jerusalem.

· (v.47-48) Bartimeus is persistent and determined to catch Jesus' attention. It is a desperate desire combined with great faith in Jesus as the one who will save him.

· (v.47) Bartimeus addresses Jesus as "Son of David", a title for the Messiah, as has been prophesized in the Old Testament. Mark wants to emphasize that Jesus is indeed the Messiah, the one who will liberate Israel.

· (v.48) Why do people scold this blind man? It is customary for a rabbi or distinguished teacher to teach the crowd while on his journey to Passover celebration. The crowd following Jesus may be offended by Bartimeus' cry drowning out what they are trying to listen to. If so, then they do not understand Jesus, who is always merciful.

· (v.50) Jesus calls Bartimeus. His response is immediate and enthusiastic! He did not say "Wait until I have done this or that." Instead, he jumped up and came without aid. In answering the call of Jesus, Bartimeus "throws aside his cloak". For a beggar, the cloak may be his bed at night, it may be what he uses to collect the coins he begs. The beggar throws aside what little securities he has.

· (v.51) "What do you want me to do for you?" Jesus, and probably everyone else there, knows the man's need. In asking the question, Jesus confirms his (and our) freedom to choose. (v.52) "Go your way." When the man can see, he chooses to go Jesus' way.

Chi Tiết Hay

· (c.46) Jericho cách Jerusalem 15 dặm. Đây là trạm dừng chân cuối cùng trước khi Chúa Giêsu vào thành để chịu nạn. Đám đông đi cùng với Ngài là những người trên đường đến thành để dự lễ Vượt Qua.

· (cc.47-48) Người hành khất mù quyết tâm gặp Chúa bất chấp sự quát mắng của đám đông. Anh đặt tất cả đức tin của mình vào Chúa Giêsu là người có thể cứu anh.

· (c.47) "Con vua Đa-vít" là tước hiệu của Đấng Mêsia từ trong Cựu Ước. Thánh Maccô muốn nhấn mạnh ở đoạn này là Chúa Giêsu đích thực là Đấng Mêsia, đến để cứu thoát dân Do Thái.

· (c.48) Tại sao đám đông lại quát nạt người hành khất? Tục lệ của thời đó là trên đường đi dự lễ Vượt Qua, người ta có thể vừa đi vừa nghe lời giảng dạy từ các thày rabbi. Có thể lúc đó họ đang lắng nghe lời giảng của Chúa Giêsu, và tiếng kêu la của anh hành khất làm họ Chia trí. Nếu thế, họ thật không hiểu Ngài, là Đấng đầy lòng từ bi.

· (c.50) Chúa gọi anh mù. Anh trả lời liền. Anh chẳng nói "Xin đợi tôi làm xong chuyện này hay chuyện kia" nhưng anh vui mừng đến độ nhảy lên và "vất áo choàng lại". Đối với một người hành khất, áo choàng có thể là chăn đắp ban đêm, có thể là khăn hứng những đồng tiền anh đã nhọc công ăn xin. Thế nhưng anh vứt tất cả để đáp tiếng Chúa gọi.

· (c.51) "Anh muốn tôi làm gì cho anh?" Chúa Giêsu chắc đã biết anh mù muốn xin gì, nhưng Chúa vẫn hỏi; Ngài cho con người quyền tự do chọn lựa.
(c.52) "Anh hãy đi". Khi anh mù được nhìn thấy, anh đã chọn đi con đường của Chúa Giêsu.

One Main Point
Bartimeus, the blind beggar, is a model for all disciples. He is singularly focused on Jesus as the source of his salvation. He rejoices when he is called, throwing away whatever he holds dear, in faith that what Jesus gives is worth much more.

Một Điểm Chính
Hành động của anh hành khất mù là gương sáng cho mọi môn đệ của Chúa. Anh chú tâm hòan toàn vào Chúa Giêsu là nguồn cứu độ của anh. Anh reo mừng khi Chúa gọi, và vứt đi tất cả những gì anh có, tin tưởng rằng những gì Chúa cho thì đáng quý hơn .

Reflections

1. The blind man is not vague in his request to Jesus. He knows what he needs--to see. What do I need spiritually? I ask God to help me in my self-examination.

2. I contrast the response of this blind man, and that of the rich man in Mark 17-22. Jesus asks the rich man to sell what he has and give to the poor. The rich man walks away sad, unwilling to do as Jesus asks. In the Gospel today, the blind man throws away what little he has. What is Jesus asking me to do in my daily life? Does my response resemble that of the blind man, or the rich man? Which is my security, "my cloak?" I ask God for FAITH, to trust him

Suy Niệm

1. Người hành khất mù không cầu xin bâng quơ với Chúa Giêsu. Anh biết rõ mình muốn gì, cần gì; anh muốn được thấy. Còn tôi, tôi cần gì, muốn gì trong đời sống thiêng liêng? Tôi xin Chúa giúp tôi nhìn chính mình.

2. Hành động của anh mù khác hẳn với hành động của anh thanh niên giàu có trong đọan Matcô 10:17-22. Chúa khuyên anh thanh niên giàu có bán những gì anh có để cho người nghèo; anh bỏ đi buồn rầu, anh không muốn làm điều Ngài dạy. Còn anh mù, anh mừng rỡ và quăng tất cả những gì anh có. Cách tôi đáp lời dạy dỗ của Chúa giống người nào? Anh hành khất mù, hay anh thanh niên giàu có? Điều gì tôi quý mà không muốn bỏ, là "áo choàng" của tôi? Tôi xin Chúa cho tôi đức tin để tôi tin tưởng nơi Ngài.

LM QUANG LÊ

---------------------------

Mù Lòa.

http://servicioskoinonia.org/cerezo/dibujosB/59ordinarioB30.jpg

Có nhiều thắc mắc chúng ta khó trả lời. Tại sao Chúa lại để cho người này, người kia mù lòa, câm điếc hay bất toại? Nếu chỉ nhìn vào cuộc sống tự nhiên, chúng ta không tìm được câu trả lời thích đáng. Chính vì thế, nhiều người cảm thấy bất hạnh. Chúa Giêsu đã đến như một nguồn ánh sáng làm cho chúng ta nhận biết được giá trị của những bất toàn trong đời sống.

Phúc âm hôm nay tả cảnh Chúa chữa lành cho người mù ăn xin vệ đường. Anh mù đến van xin Chúa rằng: Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy. Chúa Giêsu đáp: Được, đức tin của anh đã chữa anh. Anh đã được thấy và thấy rõ hơn cả những người nghĩ mình có mắt sáng. Biết bao người có mắt sáng chung quanh anh. Họ trông thấy Chúa nhưng họ không nhìn biết Chúa. Họ đâu có nhận ra Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa. Họ đâu có tin Chúa có quyền phép vô cùng. Anh mù đặt niềm tin tưởng nơi Chúa, Đấng có thể chữa anh. Chúa đã chữa mắt thể xác và cả mắt tinh thần cho anh.

Chúng ta có mắt sáng nhưng không phải chúng ta nhìn thấy mọi sự. Có nhiều điều xảy ra chung quanh mà chúng ta không thấy. Đôi khi mắt chúng ta bị che khuất bởi sự ích kỷ, lòng hẹp hòi, sự ghen tương, lòng hận thù, chúng ta không nhận ra được sự tốt lành nơi người khác. Chúng ta có những điểm mù trong cuộc sống. Điểm mù của con mắt tinh thần làm chúng ta không nhận ra nhân phẩm xứng đáng của anh chị em.

Truyện kể người ta thấy một em bé gái mù lòa, mặt mày hốc hác, quần áo rách rưới đứng co ro ở một góc đường để xin ăn. Cô bé trông bẩn thỉu, đầu tóc rối bù, ốm o bệnh hoạn. Lúc ấy, một ông ăn mặc sang trọng lái xe ngang qua đó trông thấy cô bé nhưng ông chẳng thèm nhìn đến lần thứ hai. Khi lái xe về đến nhà, thoải mái trong căn hộ ấm cúng với vợ con. Trước mâm cơm thịnh soạn, hình ảnh cô bé bỗng hiện ra rõ rệt trong đầu ông. Ông thở dài và phàn nàn cùng Chúa: Tại sao Chúa để cho những hoàn cảnh đáng thương như thế xảy ra trên cõi đời này? Hình ảnh cô bé cứ ám ảnh ông, không chịu được sự dằn vặt ông trách Chúa: Chúa phép tắc vô cùng, tại sao Chúa không làm cái gì để giúp cô bé nghèo khổ đáng thương ấy. Lúc ấy, tự thâm tâm ông nghe tiếng Chúa phán cùng ông rằng: Ta đã làm rồi chứ sao lại không. Điều này Ta dành cho con đó. Ta đã dựng nên con mà.

Lạy Chúa, xin mở mắt tâm hồn chúng con để chúng con quan chiêm những kỳ công của Chúa. Xin cho con mắt đức tin của chúng con mở sáng để chúng con nhìn được hình ảnh Chúa nơi anh chị em của chúng con.

Lm. Giuse TRẦN VIỆT HÙNG

---------------------

 
CAM NGHIEM SONG LOI CHUA # 115 = MU LOA TAM LINH PDF Print E-mail

Oct 22 at 8:38 PM

Chủ Nhật Thứ XXX mùa Thường Niên

Bài giảng Deacon Dominic Vũ quang Minh Canada.

Anh Mù Yêricô Và Bài Học Tôn Giáo - TIN MỪNG MC 10, 46-52

         "MÙ LÒA THỂ XÁC - MÙ LÒA TÂM LINH"

Bartimaeus được Chúa chữa lành nhờ lòng tin.

Dù rằng người đời cản không cho gặp Chúa. Dù rằng họ lạnh lùng vô cảm thiếu xót thương trước cảnh sống tối tăm, muốn anh mãi mãi là người mù ăn xin bên vệ đường. Anh đã mạnh dạn lớn tiếng kêu cầu: "Lạy ông Yêsu, con Vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi". Với thiện chí, anh trút bỏ áo choàng, chồm lên lìa xa khung cảnh vệ đường mà lâu nay anh vẫn ngồi đó như bị định mệnh trói chặt chân của kiếp cơ hàn, sống nhờ vào đồng xu của người bố thí, và rồi với đức tin mạnh mẽ, anh đã được Chúa chữa lành. 

Biểu tượng thánh kinh, người mù là hình tượng của sự đói nghèo, của con người bị bỏ rơi.

Như vậy có nghĩa là hôm nay tác giả Marcô không chú trọng nhiều đến chính phép lạ chữa lành anh mù này, mà là muốn chú trọng đến bối cảnh của cái nghèo cơ bần đeo đẳng nơi anh, và làm nổi bật đặc thái cứu độ của nó, nghĩa là chàng mù Bartimaeus chính là đại diện cho cảnh sống của những tín hữu dưới thời Cựu ước đang bị mù lòa trước cái nhiệt cảm qua sự động lòng của con Thiên Chúa trước thân phận khổ đau của một kiếp người.
Điều này cũng là bài học tôn giáo cho cả chúng ta thời nay cũng mù lòa luôn về một cách nào đó khi thấy Chúa nơi nhà tù, đang tị nạn chạy loạn trong các lều tạm trú, đang di dân, đang nằm lê trên lề đường phố chợ mà chẳng nhận ra dáng ngài ẩn thân nơi họ. Thời xưa hay thời nay thì người bị ném vào góc phố bên lề xã hội, vẫn luôn bị người đời khinh khi cho vài mẩu bánh, chút đồng quà, nhưng luôn nghèo đói, sống cảnh khố rách áo ôm mà chẳng ai thèm ngó khi mà gia đình họ đang chăn êm nệm ấm.

Bartimaeus mù đôi mắt thể xác, nhưng anh thật có một thính giác rất đặc biệt, và một cặp mắt tâm linh.

anh đã nhận ra sự hiện diện của Đức Yêsu là người Nazareth con vua Đavít, cộng thêm đôi mắt tâm linh sáng như sao băng, nên anh cũng đã nhìn ra Yêsu là người của Chúa, ngài có quyền chữa anh khỏi căn bệnh mù lòa.Với đôi mắt đức tin, anh đã chẳng sợ người ta cấm cản. Càng cản ngăn dọa nạt, anh càng lớn tiếng kêu xin thống thiết hơn. Với niềm tin, anh đã liệng bỏ áo chòang là vật tùy thân che nắng mưa sương gió, anh vứt bỏ kiếp ăn mày mà nhận quà tặng từ chúa để thấy điều anh được ngài dạy bảo. Anh từ bỏ thân phận mù lòa, rũ bỏ đời sống tối tăm, đến miền ánh sáng tình yêu và sự sống để có thái độ dứt khoát với quá khứ ngay cả khi chưa được trị khỏi thì đã nhảy chồm bước theo tiếng Thày đang ban lời dù đôi mắt mù nhưng tiến đại về nơi có tiếng đoàn lũ người đang nói ra: Này anh, Thày đang gọi anh đó.

Thái độ cần thay đổi cách sống như mẹ Terêxa Calcutta.

Mẹ Têrêsa Calcutta có kể câu chuyện: Một người đàn ông bệnh phong cùi, sống trơ trọi trong một hang động thăm thẳm tăm tối, xa lánh và hận thù mọi người, hận thù xã hội đã xua đuổi ông. Ngày Mẹ đến thăm, người đàn ông ấy đã không bao giờ muốn ra khỏi nơi thẳm sâu tăm tối chẳng của lòng mình mà là cả nơi hang động nữa. Mẹ lại gần anh, đưa tay mời mọc, nâng cánh tay anh để anh đứng dậy, với cả vòng tay yêu thương rộng mở ôm anh vào lòng của cử chỉ yêu thương như mẹ chia sớt cái đau trong cơn bối rối, khi rồi dìu anh bước ra khỏi nơi ẩm thấp tăm tối . Vừa đến bên cửa hang nơi ánh sáng mặt trời vẫn có đó chiếu xuyên qua khung cảnh thôn trang, người đàn ông ấy gương mặt tỏ hiện khi con tim chưa có phút giây nào chao động như thế sau những ngày đau thương từ da phong hủi, khiến khuôn mặt ấy Mẹ mãi mãi không bao giờ có thể quên được: Ra khỏi nơi tối tăm như người tù của con bệnh, ông đứng giữa ánh sáng, anh hét lên một tiếng kêu hớn hở: "Tôi thấy! tôi thấy và tôi thấy" cái thơ mộng của triều ánh sáng kể từ khi bóng tối của bệnh phong cùi ập phủ xuống trên cuộc đời tôi. Vâng, hôm ấy thực đã là lần đầu tiên anh cảm nhận được có ánh sáng trong cuộc đời sau chuỗi ngày chùng xuống vì mặc cảm laẫn thương đau và máu hận. Với tất cả sức lực còn lại, anh muốn thét lên với cây cỏ, với núi non, với thiên nhiên, với trời cao, với tất cả mọi người như sau: "Tôi thấy! Tôi thấy! Tôi thấy rồi!".

Bắt chước thái độ cầu xin hằng ngày như gương anh mù thành Yêricô.

Chuyện anh Mù ở thành Yêricô khi nói câu:Thưa Thầy, xin cho con được nhìn thấy". Câu này cũng phải lời cầu xin hằng ngày của mỗi người chúng ta. Chúng ta thường phiến diện trong đời sống trong cái nhìn toàn cảnh. Lại nữa, sẽ có những lúc chúng ta không thấy, hoặc cố ý không muốn thấy. Có những lúc chúng ta thấy mặt này mà chẳng thấy mặt kia. Mù lòa thể xác ai cũng biết, nhưng mù lòa tâm hồn thì không dễ nhận ra. Nên chúng ta hãy xin Chúa xóa cảnh mù lòa cho mình. Vì chỉ "trong ánh sáng của Chúa, chúng ta mới nhìn thấy ánh sáng thật để đi đường". Ngày nay, loại mù về tâm hồn rất nhiều. Nguyên nhân có thể là do hoàn cảnh, do môi trường. Có thể do thiếu hiểu biết. Có thể là do đam mê, lười biếng. Có thể là vì thiếu trách nhiệm nên cố tình giả làm ra cảnh mù lòa để lật lờ đánh lộn con đen.

Lại có thứ người mù lòa trước ánh sáng vô hình, không thể nhận ra Chúa Yêsu là ai, nhưng anh mù Bartimaeus này lại "thấy tỏ tường"Đức Yêsu là ai. Như tôi đã nói ở trên là Anh không van xin Chúa bằng danh xưng "Yêsu Nazareth", mà dùng danh xưng "Con Vua Đavít" - một danh xưng ám chỉ tước hiệu Đấng Mêsia. Tiếng kêu lớn tiếng của anh khi bị mọi người ngăn cản: "Lạy Con Vua Đavít", đồng thời cũng là một lời tuyên xưng niềm tin vào chính Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế, Đấng mà anh tin là sẽ phục hồi sự sáng cho anh.

Nói tóm lại, chúng ta nên thoát ra khỏi cái vỏ sò của loại người sống chỉ có nhìn về một chiều kích, tức là sống chỉ có chiều dọc là kính chúa mà không yêu người. Để dệt thành tấm vải may áo phải dệt và cho con thoi chạy hai chiều. Cần quẳng con người một chiều kích cho thật xa như anh mù Bartimaeus vất chiếc áo choàng đi để nhận món quà chúa ban là thấy được ánh hào quang của Chúa.

----------------------------

 
CAM NGHIEM SONG LOI CHUA # 114= CHU SE PHUC VU PDF Print E-mail

Chủ sẽ phục vụ (20.10.2015 – Thứ ba Tuần 29 Thường niên)

TIN MỪNG LUCA 12, 35-38

Kitô hữu biết mình chờ ai, chờ một người sớm muộn chắc chắn sẽ đến. Chờ một cách tích cực với thái độ sẵn sàng làm việc dưới ánh đèn.

Khi ấy, Đức Giêsu nói với các môn đệ rằng: "Anh em hãy thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn. Hãy làm như những người đợi chủ đi ăn cưới về, để khi chủ vừa về tới và gõ cửa, là mở ngay. Khi chủ về mà thấy những đầy tớ ấy đang tỉnh thức, thì thật là phúc cho họ. Thầy bảo thật anh em: chủ sẽ thắt lưng, đưa họ vào bàn ăn, và đến bên từng người mà phục vụ. Nếu canh hai hoặc canh ba ông chủ mới về, mà còn thấy họ tỉnh thức như vậy, thì thật là phúc cho họ."

Suy niệm / Chia sẻ Cam nghiệm Sống:

Bạn đã dành bao nhiêu thời gian để ăn, ngủ, và làm việc trong một đời?

Nhiều người nghĩ mình có thể đưa ra những con số khá chính xác.

Nhưng chúng ta dành bao nhiêu thời gian để chờ?

Có thứ chờ tính được bằng thời gian.

Có thứ chờ kéo dài liên tục nằm nơi trái tim mong ngóng.

Mẹ chờ con, vợ chờ chồng, những người yêu chờ nhau.

Trong một vở kịch của Samuel Beckett, văn sĩ được giải Nobel 1969,

có hai người chờ một nhân vật mơ hồ tên là Godot.

Cả hai chỉ quen sơ sơ ông này, nếu có gặp cũng chẳng nhận ra.

Vậy mà họ vẫn chờ, nhưng ông Godot nào đó đã không đến.

Có lẽ Samuel Beckett muốn nói đến cái phi lý của đời người.

Cứ chờ cứ đợi một điều mơ hồ và chẳng xảy ra.

Đức Giêsu dạy các môn đệ biết chờ đợi trong cuộc sống.

Chờ như những đầy tớ chờ chủ mình đi ăn cưới về.

Đám cưới ngày xưa hay vào ban đêm để tránh cái nóng.

Chủ có thể về trễ, nên phải chịu khó chờ,

nghĩa là phải tỉnh thức, không được ngủ quên.

Nhưng chờ lại không phải là thái độ ngồi yên, thụ động.

Chờ là đặt mình trong tư thế sẵn sàng phục vụ.

"Anh em hãy thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sáng" (c. 35).

Người đầy tớ sẵn sàng bắt tay vào việc,

vì chiếc áo đã được vén lên gọn gàng,

và trong đêm, ngọn đèn được châm dầu vẫn luôn cháy sáng.

Có một giây phút quan trọng, giây phút ông chủ về.

Sự chờ đợi, sự tỉnh thức, sự sẵn sàng, tất cả hướng đến giây phút này.

Lỡ giây phút này là lỡ tất cả.

"Để khi chủ về tới, gõ cửa thì mở ngay" (c. 36).

Mở ngay vì mình đang chờ, đang thức, đang sẵn sàng,

áo đã được vén lên để chuẩn bị phục vụ,

đèn đã được thắp sáng để soi trong bóng đêm.

Chủ sẽ ngỡ ngàng vì sự mau mắn như vậy của các đầy tớ.

Nhưng các đầy tớ còn ngỡ ngàng hơn nhiều.

Chính khi các anh chuẩn bị phục vụ chủ, thì chủ lại phục vụ các anh.

"Chủ sẽ thắt lưng, đưa họ vào bàn ăn,

và đến bên từng người mà phục vụ" (c. 37).

Rõ ràng đã có một sự đổi vai bất ngờ: chủ đã thắt lưng, phục vụ như đầy tớ.

Đầy tớ đã trở nên trọng hơn chủ, vì Thầy ở giữa anh em như người hầu bàn.

Đó là mối phúc dành cho người tỉnh thức vào giờ lẽ ra đang yên ngủ.

Canh hai, canh ba, là đã quá nửa đêm về gần sáng (c. 38).

Kitô hữu biết mình chờ ai, chờ một người sớm muộn chắc chắn sẽ đến.

Chờ một cách tích cực với thái độ sẵn sàng làm việc dưới ánh đèn.

Hạnh phúc đến với tiếng gõ cửa đầu tiên trong đêm.

Chúng ta mong nghe được tiếng gõ nhẹ ấy như một tiếng gọi.

Xin mở cửa ngay để được thấy tận mắt Thiên Chúa phục vụ con người.

Cầu nguyện:

Lạy Chúa,

những sa mạc ngắn ngủi hằng ngày

giúp con tỉnh thức

để nhạy cảm với ý Chúa.

Xin cho con yêu mến Chúa hơn

để tìm ra những sa mạc mới

và vui vẻ bước vào.

(gợi hứng từ Madeleine Delbrêl)

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

Kinh chuyen,
QP

God bless you!
www.tonghoimancoi.org

---------------------------

 
CẢM NGHIEM SONG LOI CHUA- THU HAI CN29TN-B PDF Print E-mail

Thứ Hai Chủ Nhật Thứ XXIX - CẢM NGHIỆM SỐNG TIN MỪNG LUCA 12, 13-21

Bài giảng Deacon Vũ quang Minh Canada

Thuật trình Luca hôm nay đề cập tới việc tranh tụng gia tài đã là một vấn nạn liên quan đến tố tụng, khiến cho biết bao gia đình lâm vào cảnh so đo, tính toán hơn thiệt, tị hiềm, hận thù dai dẳng khó lòng nào có thể tha thứ cho nhau. Đó cũng là một thắc mắc mở ra cho qúi anh chị em và cả tôi muốn hỏi một câu hỏi là:

Tại sao Chúa Yêsu từ chối đứng làm trọng tài, hay nói đúng hơn là làm quan án để phân xử sao cho hài hòa giữa hai anh em nhà kia trong việc người anh tranh cướp gia tài khi song thân khuất bóng?

Chúa Yêsu chắc hẳn là đã nhìn thấy trọng tâm của sự kiện, nhưng sứ vụ của ngài đến không phải là để tìm những lý giải cho nội vụ mang tính thiếu công bằng trong cán cân công lý qua tranh chấp gia tài. Nhưng ngài nhân cơ hội này nói cho người bị thiệt thòi, và đồng thời cho những người đang vây quanh ngài hiiểu: Việc xảy ra tranh tụng này chỉ có thể giải quyết tốt trong tính công bằng hệ tại từ nội tâm qua hiểu biết của mỗi một người mà thôi. Tranh gia tài nó có nguyên nhân từ chính cái lòng tham chiếm hữu trong ý hướng miệt mài vơ vét của cải là cái không có bền chặt trên con đướng tiến về nước hằng sống. Chính vì vậy, ngài lái sự việc thay vì làm quan án thì ngài tặng cho người khiếu nại bằng một câu chuyện, để giúp anh không phải là dĩ hoà vi qúi, nhưng là cho anh hiểu hai vấn đề tốt cho anh hơn qua mặt trái của vấn đề đó là:

-Yêu mến những vật hữu hơn yêu mến tha nhân là đối chọi với luật Chúa.

Trong 10 giới luật chung qui có hai điều cấm mang tính tiêu cực đó là không được thờ ngẫu tượng và chớ thèm thuồng những cái khác. Song song với hai điều cấm thì có hai điều tích cực là mến Chúa và yêu người. Chúa cảnh tỉnh người đòi một nửa phần gia tài xin ngài phân xử là: "bạn hãy cảnh giác mọi khát kghao tham lam thèm muốn". Ngài gián tiếp bảo anh chị em rằng: Thèm muốn là ước muốn lo mải miết chiếm hữu những cái không bền chặt mà quên đi những ân sủng chúa muốn ban cho cái tốt hơn cái của hư nát đó. Cái giới răn đừng thèm muốn những chiếm hữu ở đây không có nghĩa là chúa cấm có cuộc sống phong phú và dồi giào, nhưng là đừng quá chú tâm xây dựng vật chất mà quên rằng dù có rừng vàng biển ngọc, nhưng rồi sẽ có một ngày chỉ còn hai bàn tay trắng đến trước toà chúa.

-Thật là khờ của kẻ dại bởi sự sang giàu của họ.

Vì đâu chúa gọi họ là kẻ điên rồ dại khờ qua dụ ngôn người phú hộ (Luke 12:16-21). Ngài giản lược qua mẩu chuyện cho xem thấy cái tôi ích kỷ, khi mà con mắt thèm muốn cái gì cũng đòi là của tôi. Chiếc ghế ngồi này phải dành cho tôi vì tôi có tình thân toộc gần với Chúa Yêsu như 2 anh em con ông Zêbêđê dành ngồi bên phải và tri chúa trên nước hầng sống. Thật sự cái tôi là cái đáng ghét khi độc quyền chiếm hữu và thống lãnh khi dùng quyền khiển xử cả ở trong môi trường đạo lẫn đời. Một câu chuyện tương tự cũng trong tin mừng thánh Luca 16:19-31, dụ ngôn này cho thấy người ăn xin Lazarô bị khổ sở ngồi chờ từng mẩu thức ăn dư bừa mứa mà ông phyú hộ kia đóng cửa lòng thương xót đến anh ngèo nằm đói meo ở cổng nhà ông. Ông phú hộ chỉ nhìn thấy đồng tiền do lợi nhuận bán thức ăn, mà quên yâu người đói cơ hàn. Chính vì thế hôm nay Chúa một ná bắn rới hai con chim đó là Linh hồn tôi ơi hãy yên trí mà ăn và uống cùng phè phỡn mà sống lâu lắm mới chết... nhưng nội đêm nay một đêm mà tử thần đến gõ cửa và của cải vợ đẹp con khôn cũng phải bỏ lại khi nhắm mắt xuôi tay, không đem theo được gì.

Nói tóm lại, Cái chết đến giống như kẻ trộm và rồi có đêm tử thần gọi linh hồn ra khỏi xác mà của cải chấm hết, chỉ còn những ai giàu lòng thương người sẽ được chúa ban triều thiên vinh hiển đời đời. Thánh August of Hippo khi tuyết giảng về giáo lý nói về ngày phán xét đã dạy rằng: Tham lam thèm muốn thì bị phân chia ra, còn yêu thương cho đi thì gom lại tất cả. Vậy cái còn lại cuối cùng anh chị em còn giữ được đó là tình yêu. Bởi vì Chúa dạy: kho tàng chúng ta ở đâu thì lòng chúng ta có ở đó. Amen

------------------------

 
CAM NGHIEM SONG LOI CHUA # 113 = TINH THAN PHUC VU PDF Print E-mail

Chúa Nhật XXIX Thường Niên B
CHÉN ĐẮNG – TINH THẦN PHỤC VỤ
Is 53,10-11; Dt 4,14-16; Mc 10,35-45
Một hôm Đức Hồng y Roncalli vừa trên xe bước xuống. Ngài mới đi xa về. Phái đoàn
tòa giám mục ra đón. Mọi người ngạc nhiên trên vai áo Hồng y có vướng mấy cộng rơm đồng
quê. Ai hỏi ngài cũng cười xòa vui vẻ, nhưng mấy nhân viên phụ tá trên xe đều hiểu chuyện:
Chiếc xe của Đức Hồng y đang từ hướng Bắc xuống miền Nam qua vùng đồng ruộng.
Giữa đường một chiếc xe bò chở rơm sa hố. Người đánh xe gắng sức đẩy phụ nhưng xe
không nhúc nhích. Đức Hồng y cho xe dừng lại, xắn tay áo hò dô ta đẩy phụ, và chiếc xe
rơm sa lầy lại chuyển bánh tiếp tục lên đường.
Những cọng rơm trên vai Đức Hồng y đối với ngài chỉ cười xòa cho qua. Nhưng thực sự
tỏ rõ cho chúng ta một Hồng y không quản ngại khó khăn hay sợ bẩn chiếc áo dòng sang
trọng.
Sau này lên ngôi Giáo hoàng, Đức Gioan 23 vẫn tiếp tục nếp sống bình dị phục vụ.
Tinh thần phục vụ của Đức Gioan 23 làm chúng ta gợi nhớ về ý nghĩa chén đắng và phép
rửa là tinh thần phục vụ mà Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ cùng với giáo huấn nơi người muốn
làm lớn của người môn sinh Chúa Kitô.
Chúa Giêsu loan báo về cuộc thương khó của Ngài lần thứ ba (x. Mc 10,32-34), các môn
đệ vẫn chưa hiểu hết được mầu nhiệm thập giá, các ông vẫn hy vọng một triều đại Messia mà
Thầy sắp sửa khai mạc với sự vinh quang của Thầy – Đấng Messia – Đấng Cứu Thế. Hai anh em
Giacobê và Gioan nhanh chân xin trước hai chỗ danh dự trong nước Ngài: cho ngồi bên tả và bên
hữu Thầy khi Vương Quốc Messia khai mạc. Rõ ràng lời thỉnh cầu này bỏ qua mạc khải hành
trình Giêrusalem, bỏ qua thập giá mà Thầy đang mặc khải.
Họ vẫn chưa hiểu gì cả về định mệnh đích thực của Chúa Giêsu. Bằng những câu
hỏi,"Các anh không biết các anh xin gì, Các anh có uống nổi chén Ta sẽ uống không!" Đức
Giêsu cố gắng chuyển biến tư tưởng của họ từ "vinh quang của Đấng Mêsisa" theo quan niệm
con người sang "con đường dẫn đến vinh quang" là xuyên qua khổ giá qua hình ảnh chén đắng
và phép rửa: "Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng
sẽ chịu."
 Trong Cựu ước, "Chén" đôi khi người ta nói đến chén chúc tụng, nhưng cũng nói về chén
đắng để diễn tả những đau đớn trước khi chết. Khi nói với các môn đệ, Chúa Giêsu nhấn
mạnh đến chén đắng, mà chính Ngài lãnh nhận lúc hấp hối ở Vườn Cây Dầu, Đức Giêsu
đối diện với chén đắng phải uống đó là sự thương khó, Lúc phải uống chén đau khổ ấy,
Chúa Giê-su đã phải nói: "Tâm hồn Thầy buồn đến chết được" (Mt26, 38), và cơn hấp
hối tâm thần của Người đã đạt tới mức độ khủng khiếp đến nỗi"mồ hôi Người như những
giọt máu rơi xuống đất" (Lc 22, 44). Trong cảnh cô đơn cùng cực, Ngài đã bối rối và cảm
thấy không thể uống nổi chén quá đầy đau khổ, Ngài xin Chúa Cha cất chén đắng: "Lạy
Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi uống chén này" (Mt 26, 39), nhưng vì ơn Cứu độ
cho con người Ngài lãnh nhận chén đắng khi nói tiếp: "Nhưng đừng theo ý Con, cứ theo
ý Cha".
 "Phép rửa" Thầy sẽ chịu, nói đến phép rửa thì phải có nước, nước như là biểu tượng của
sự phá huỷ (x. Tv 41, Tv 42,7; Tv 68, Tv 69,2.15; Is 43,2). Trong hy-ngữ thông dụng, từ
này có nghĩa là bị lụt, bị ngập, bị bao trùm (hiểu Lc 12,50 theo nghĩa này). Chúa Giêsu sẽ
"chìm đắm" trong cái chết trước khi "chỗi dậy" trong đời sống mới. Trong cuộc khổ nạn,
Đức Giêsu sẽ trải qua một phép rửa thật sự. Người sẽ bị dìm xuống làn nước chết, trước
khi chỗi dậy vào ngày thứ ba (Fiches dominicales, tr 304). Trong ý nghĩa đó, Phaolô
Tông đồ sau này nhấn mạnh phép rửa Kitô giáo (chẳng hạn trong Rm 6,3) trong bí tích
rửa tội, toàn thân người Kitô hữu được dìm xuống nước, tượng trưng cho việc chìm đắm
chết đi để được sống lại với Chúa Kitô.
Giacôbê và Gioan dù không hiểu điều các ông xin, nhưng vẫn thưa được. Giacôbê và
Gioan đã được Chúa cải hóa tham dự vào chén đắng của Thầy khiến các ông như thầy sau này
đối diện tử nạn: Giacôbê bị vua Hêrôđê Agrippa giết năm 44 và là vị Tông đồ tử đạo đầu tiên ở
Giêrusalem (x. Cv 12,2) và Gioan sẽ phải chịu bắt bớ thời hoàng đế Nêrông, đã bị bỏ vào vạc
dầu sôi ở cửa Latinh. Ông thoát chết bị khổ sai tại đảo Patmos (x. Kh 1,9).
Lời thỉnh cầu được vinh quang bên tả và hữu Thầy của Giacôbê và Gioan đã làm các tông
đồ khác khó chịu, vì tất cả các ông đều mong muốn làm lớn trong nước Thầy sắp khai mạc.
Trong ý nghĩa của mầu nhiệm Thập Giá qua hình ảnh chén đắng và phép rửa, Chúa Giêsu dẫn từ
sự mộng mơ về quyền bính vinh quang mà các ông mong muốn đến sư hiệp thông đời sống với
Ngài: "Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh
em thì phải làm đầy tớ mọi người" (Mc 10, 43-44). Chúa Giêsu có quyền hạn đầy đủ của một vị
Thiên Chúa, nhưng Ngài đã không hành xử như một vị thống trị, mà trở nên như "một người đầy
tớ". Ngài đã không như "lãnh chúa" mà là "gia nhân" (x. Ga 13,13) bằng cách rửa chân cho các
môn đệ vào chiều Thứ Năm Tuần Thánh và dạy bài học phục vụ cho các môn đệ. Đây là nẻo
đường duy nhất đưa tới uy tín và sự cao cả thật của người lãnh đạo. Phục vụ là tiêu chuẩn duy
nhất giúp đánh giá sự cao cả và thành công của người mang quyền bính: trở nên tôi tớ để phục
vụ nhằm mưu ích cho kẻ khác, với trọn tâm hồn, với tất cả sức lực, thì thật sự là người đứng đầu
mọi người. Cho nên, người môn đệ Đức Giêsu được chọn để phục vụ anh em theo lời giảng dạy
và mẫu gương của chính Thầy - Đức Giêsu như Ngài đã khẳng định bổn phận phục vụ dựa trên
nền tảng là lối cư xử của Ngài: "Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng
là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người".
Trên hành trình của cuộc sống là hành trình thập giá, như hai môn đệ Gioan và Giacobê,
Chúng ta được mời gọi uống chén đắng và chịu phép rửa xuyên qua những đối diện mọi gian nan
khốn khó của cuộc đời...
Lãnh nhận chén đắng, tư cách của người trách nhiệm với gia đình cộng đoàn và xã hội,
là sống lời mời gọi của Đức Giêsu "thương yêu" và "phục vụ" như Ngài mà Phaolô đã cảm
nghiệm:
"Người đã thương yêu và thí mạng vì tôi" (Gl 2,20).
Lm. Vinh Sơn scj, Sài Gòn 18/10/2015

 
<< Start < Prev 111 112 113 114 115 116 117 118 119 120 Next > End >>

Page 114 of 135