mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1786
mod_vvisit_counterHôm Qua8389
mod_vvisit_counterTuần Này16958
mod_vvisit_counterTuần Trước63269
mod_vvisit_counterTháng Này156735
mod_vvisit_counterTháng Trước193615
mod_vvisit_counterTất cả12750658

We have: 104 guests online
Your IP: 34.203.28.212
 , 
Today: Feb 20, 2019

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Cảm Nghiệm Sống Lời Chúa
CAM NGHIEM SONG LOI CHUA # HAT GIONG NUOC TROI PDF Print E-mail

Chúa Nhật XI Thường Niên B
NƯỚC TRỜI NHƯ HẠT GIỐNG...
(Mc 4,26-34)
Sau 200 năm bị cấm đạo, Nhật Bản tưởng chừng như không còn người tin vào Chúa Kitô... Ai cũng nghĩ rằng cánh đồng truyền giáo Nhật Bản cần phải làm lại từ đầu...
Khi Nhật Bản mở cửa và cho phép các Thừa sai đến truyền giáo... Một hôm, cha Petitjean đến giảng đạo tại Nagasaki cho một số đông người Nhật. Nghĩ rằng họ đều là người ngoại giáo, nên sau bài giảng cha tươi cười hỏi:
- Anh chị em có thắc mắc gì không?
Một người đưa tay đặt câu hỏi:
- Chúng tôi muốn được hỏi ông ba điều, yêu cầu ông trả lời có hay không? Câu hỏi thứ nhất, các ông có tin Đức Mẹ đồng trinh không?
- Có.
Câu hỏi thứa hai: Các ông có vâng lời và hiệp thông với Đức Giáo Hoàng không?
- Có.
Câu hỏi thứ ba: Là linh mục, các ông có giữ mình khiết tịnh và sống độc thân không?
- Có.
- Vậy thì mấy trăm người chúng tôi đây với ông là đồng đạo. Chúng tôi là người Công Giáo cả.
Cha Petijean bàng hoàng như từ cung trăng rơi xuống. Cha con âu yếm ôm cổ nhau với lòng xúc động sâu xa. Nhà truyền giáo hỏi:
- Bây lâu nay, có ai giảng dạy cho anh em không?
- Thưa cha, không có ai suốt hai thế kỷ rồi! Đó là nhờ ông bà tổ tiên chúng con truyền lại, rồi chúng con âm thầm cầu nguyện, dạy giáo lý cho con em, đoàn kết đùm bọc nhau từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ông bà chúng con trước khi chết có nhắn nhủ: Sau này có ai đến giảng đạo, hãy cảnh giác, phải lấy ba tiêu chuẩn ấy mà nhận xem họ có phải là các cha đích thực, là người của Hội Thánh sai đến không.
Kể từ đó, Giáo Hội Nhật Bản được tái sinh sau 200 năm cấm đạo. Hạt giống Lời Chúa đã được gieo vào lòng đất Nhật Bản từ 200 năm trước vẫn âm thầm nẩy mầm, mọc lên và sinh hoa kết quả...
Tin Mừng theo Thánh Máccô 4,26-34 thuật lại việc Chúa Giêsu giảng dạy về Nước Trời qua hai dụ ngôn:
• Dụ ngôn thứ nhất: Nước Thiên Chúa ví như một hạt lúa được gieo vào lòng đất tự nó nảy mầm, thành cây và trổ bông nặng trĩu hạt lúa mới cho mùa gặt bội thu (Mc 4,26-29). Trong ngữ cảnh so sánh với Nước Thiên Chúa, hạt giống ẩn giấu và tiệm tiến trong sự quan phòng của Thiên Chúa cho Nước Trời, không gì ngăn cản được, theo một tiến trình đưa hạt giống lớn lên cả đêm lẫn ngày để đạt tăng trưởng hoàn toàn.
• Dụ ngôn thứ hai: Nước Thiên Chúa giống như hạt cải bé nhỏ, lúc gieo xuống đất, nó là loại hạt nhỏ nhất trên mặt đất. Nhưng khi gieo rồi, thì nó mọc lên lớn hơn mọi thứ rau cỏ, cành lá xum xuê, đến nỗi chim trời có thể làm tổ dưới bóng (Mc 4,30-32).
Cả hai dụ ngôn mang ý nghĩa: Nước Trời phát triển nhờ hoạt động và lời rao giảng của Đức Giêsu dù khiêm nhường, nhỏ bé và cộng đoàn các môn đệ của Ngài là Giáo hội. Và dù có yếu đuối, thất bại, thì tất cả đều đang tham gia vào thành tựu vẻ vang của một công trình tràn đầy sức sống và khi tới giai đoạn chung cuộc với sự phát triển toàn diện.
Thật thế, như hạt giống ngày đêm không ngừng lớn lên, ước chi những khó khăn không làm con chùn bước. Trước dễ dãi, thành công cũng không làm chúng con ngủ quên... Nhưng sẽ là hạt giống không ngừng lớn lên thành cây cao bóng cả... của công trình Thiên Chúa. Con luôn xác tín rằng mọi nỗ lực nhỏ bé âm thầm mang hạt giống Tin Mừng, đều thắm đượm tâm tình của Phaolô Tông đồ:
"Tôi trồng, anh Apôlô tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho lớn lên. Vì thế, kẻ trồng hay người tưới chẳng là gì cả, nhưng Thiên Chúa, Đấng làm cho lớn lên, mới đáng kể" (1 Cr 3,6-7).
Thật thế,
Mọi nỗ lực nhỏ bé của chúng con như hạt giống gieo vào lòng đất, với ơn Chúa sẽ nẩy mầm, vươn lên và đâm hoa kết trái...
Mọi việc làm khiêm tốn như hạt cải nhỏ bé nhất biết tự hủy trong Chúa, sẽ phát triển thành cây lớn mang hồng ân...

Lm. Vinh Sơn scj, Sài gòn 13/06/2015

 
CAM NGHIEM SONG LOI CHUA # CN11TN-B= DU NGON NUOC TROI PDF Print E-mail

Dụ ngôn Nước Trời

(Chúa Nhật XI TN, năm B)

Dụ ngôn cũng được gọi là ngụ ngôn. Hai danh từ này có nghĩa tương đương nhưng cũng nghĩa khác nhau.

Ngụ ngôn (Anh: parable, fable; Pháp: parabole, fable) là một câu chuyện ngắn, đơn giản, bằng văn xuôi hoặc văn vần, mang tính hoang đường, truyền thuyết, hư cấu, "bịa" ra như chuyện phiếm, nhưng vẫn có bài học luân lý, mang tính giáo dục, răn đời; các nhân vật thường là vật hoặc con vật được nhân cách hóa, các nhân vật cũng có thể là người hoặc thần linh.

Dụ ngôn (parable, parabole) cũng là một câu chuyện ngắn, đơn giản, bằng văn xuôi, nhưng khác là mang tính bí ẩn, mang tính tục ngữ, đặc biệt là mang chiều kích tâm linh. Chúa Giêsu dùng thể loại này, tức là Ngài dùng thể loại "dụ ngôn" chứ không dùng "ngụ ngôn".

Chúa Giêsu dùng dụ ngôn để minh họa chân lý, dùng hình ảnh dưới thế nhưng mang ý nghĩa trên trời. Ngài thích dùng dụ ngôn, có lẽ vì loại văn này độc đáo, như Kinh Thánh xác nhận: "Ngài không nói gì với họ mà không dùng dụ ngôn" (Mt 13:34; Mc 4:34). Có khoảng 35 dụ ngôn trong các Phúc Âm nhất lãm.

Có lần các môn đệ đã hỏi Chúa Giêsu: "Sao Thầy lại dùng dụ ngôn mà nói với họ?" (Mt 13:10). Ngài nói: "Bởi vì anh em thì được ơn hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời, còn họ thì không. Ai đã có thì được cho thêm, và sẽ có dư thừa; còn ai không có thì ngay cái đang có, cũng sẽ bị lấy mất. Bởi thế, nếu Thầy dùng dụ ngôn mà nói với họ, vì họ nhìn mà không nhìn, nghe mà không nghe không hiểu. Thế là đối với họ đã ứng nghiệm lời sấm của ngôn sứ I-sai-a: Các ngươi có lắng tai nghe cũng chẳng hiểu, có trố mắt nhìn cũng chẳng thấy; vì lòng dân này đã ra chai đá: chúng đã bịt tai nhắm mắt, kẻo mắt chúng thấy, tai chúng nghe, và lòng hiểu được mà hoán cải, và rồi Ta sẽ chữa chúng cho lành" (Mt 13:11-15; x. Mc 4:10-12 và Lc 8:9-10).

Nhưng khi chỉ có Thầy trò với nhau, Chúa Giêsu giải thích hết cho các môn đệ hiểu. Ngài nói rằng việc sử dụng các dụ ngôn có hai mục đích: Mặc khải sự thật cho những người muốn biết và che giấu sự thật đối với những người dửng dưng, không quan tâm. Nhóm Pha-ri-sêu đã công khai khước từ Đấng Mê-si-a và phỉ báng Chúa Thánh Thần, nghĩa là họ phạm loại tội nặng nhất, không được tha cả ở đời này và đời sau (Mt 12:22-32). Họ đã ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a nói về những người cứng lòng, đui mù và câm điếc: "Hãy đi nói với dân này rằng: Cứ nghe cho rõ, nhưng đừng hiểu, cứ nhìn thật kỹ, nhưng đừng nhận ra. Hãy làm cho lòng dân này ra đần độn, cho tai nó điếc, cho mắt nó mù; kẻo mắt nó thấy, tai nó nghe và lòng nó hiểu, mà nó trở lại và được chữa lành" (Is 6:9-10).

Sau khi dùng các dụ ngôn, Chúa Giêsu thường nói: "Ai có tai nghe thì nghe" (Mc 4:9; Mc 4:23; Mc 7:16; Lc 8:8; Lc 14:35). Đó là cách mời gọi lắng nghe dụ ngôn, không chỉ nghe chuyện đời thường mà là tìm kiếm sự thật của Thiên Chúa. Ngài ban cho mỗi người có HAI TAI và MỘT MIỆNG, tức là PHẢI NGHE nhiều hơn NÓI. (Ngoài ra còn hai mắt, hai chân và hai tay – nhìn nhiều, đi nhiều và làm nhiều).

Thời Cựu Ước, Thiên Chúa đã phán hứa: "Từ ngọn cây, từ ngọn hương bá cao chót vót, Ta sẽ lấy, sẽ ngắt một chồi non; chính Ta sẽ trồng nó trên đỉnh núi cao vòi vọi. Ta sẽ trồng nó trên núi cao của Ít-ra-en. Nó sẽ trổ cành và kết trái thành một cây hương bá huy hoàng. Muông chim đến nương mình bên nó, và ẩn thân dưới bóng lá cành. Tất cả cây cối ngoài đồng ruộng sẽ nhận biết chính Ta là Đức Chúa. Ta hạ thấp cây cao và nâng cao cây thấp, Ta làm cho cây xanh tươi phải khô héo và cây khô héo được xanh tươi. Chính Ta là Đức Chúa, Ta đã phán là Ta thực hiện" (Ed 17:22-24). Trong đó có "hình bóng" của dụ ngôn thời Tân Ước mà Chúa Giêsu sử dụng để nói về Nước Trời. Đó là một lời hứa, nhưng là lời hứa đang ứng nghiệm trong "Thời Cánh Chung" – thời chúng ta đang sống.

Được lời hứa của Thiên Chúa thì còn gì hạnh phúc bằng, vì lời hứa đó chắc chắn ứng nghiệm và hiện thực, chứ không như lời hứa của phàm nhân – nhưng con người mang họ "hứa" và liên quan dòng máu Chú Cuội. Tác giả Thánh Vịnh thầm nguyện: "Thú vị thay được tạ ơn Chúa, được mừng hát danh Ngài, lạy Đấng Tối Cao, được tuyên xưng tình thương của Ngài từ buổi sớm, và lòng thành tín của Ngài suốt canh khuya" (Tv 92:2-3). Tạ ơn và xưng tụng Chúa là trách nhiệm của phàm nhân, các "sinh vật cao cấp" được Ngài tạo dựng vì yêu quý và thương xót.

Tác giả Thánh Vịnh so sánh: "Người công chính vươn lên tựa cây dừa tươi tốt, lớn mạnh như hương bá Li-băng được trồng nơi nhà Chúa, mơn mởn giữa khuôn viên đền thánh Chúa ta; già cỗi rồi, vẫn sinh hoa kết quả, tràn đầy nhựa sống, cành lá xanh rờn, để loan truyền rằng: Chúa thực là ngay thẳng, là núi đá cho tôi ẩn náu, nơi Người chẳng có chút bất công" (Tv 92:13-16). Màu xanh thiên nhiên cho thấy sức sống dồi dào của cảnh vật, đó là nhờ bám rễ sâu vào lòng đất để hút các dưỡng chất; cũng vậy, con người sẽ thanh thản và bình an phát triển nhờ hồng ân Thiên Chúa, mãi mãi không tàn úa.

Thánh Phaolô bộc bạch: "Chúng tôi luôn mạnh dạn, và chúng tôi biết rằng: ở lại trong thân xác này là lưu lạc xa Chúa, vì chúng ta tiến bước nhờ lòng tin chứ không phải nhờ được thấy Chúa. Vậy, chúng tôi luôn mạnh dạn, và điều chúng tôi thích hơn, đó là lìa bỏ thân xác để được ở bên Chúa" (2 Cr 5:6-8). Đức tin thực sự rất cần thiết, cần hơn việc "được thấy Chúa". Thế nhưng, nhiều người vẫn "đua nhau" tìm kiếm "sự lạ" ở nơi này hoặc nơi kia, Thánh Thể là phép lạ vĩ đại nhất, hằng ngày vẫn xảy ra tại các nhà thờ hoặc nhà nguyện ở khắp nơi trên thế giới, thế thì còn tìm điều gì lạ ở nơi nào chứ?...

Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con hiểu rõ và biết cố gắng thực hành các huấn lệnh Ngài dạy, cụ thể là qua các dụ ngôn. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Kính chuyển:

Hồng

------------------

 
CAM NGHIEM SONG LOI CHUA # THA THU - THA NỢ PDF Print E-mail


Thưa các bạn,
"Dụ ngôn hạt cải là dụ ngôn cuối cùng trong năm dụ ngôn về Nước Thiên Chúa ..."
Vào Chúa Nhật 11 năm B thương niên: MC 4, 26-34.

Hôm nay mời các bạn đọc bài : Tha thứ và tha nợ
jb nhan

Tha thứ + Tha nợ = Tự do

Tôi rất thích các câu chuyện hiền hòa ngày xưa, lúc mọi người xem nhau là anh em, giúp nhau lúc túng thiếu, nợ nần không đòi nhau. Tâm hồn tôi được nuôi sống trong những chuyện này, tôi xin kể hai chuyện.

Chuyện thứ nhất là câu chuyện Tha Thứ

Ngày xưa viện phụ Anastase chép toàn bộ Cựu Ước và Tân ước trên giấy bằng da rất đẹp, nguyên miếng da đã rất đắt tiền, mười tám đồng. Một ngày nọ, có người đệ tử đến thăm, thấy bộ sách quý và lấy đi. Cũng ngày hôm đó, vì có việc cần tham khảo quyển sách, viện phụ nhận ra tập sách đã mất và ngài biết người đệ tử đã lấy. Nhưng, ngài không nhờ ai đi tra hỏi, sợ người đệ tử phải thề cho việc ăn cắp này.

Người đệ tử đi đến thành phố bên cạnh để bán tập sách, anh đòi mười sáu đồng. Người mua sách nói: "Xin anh để tập sách lại đây, tôi đi khảo giá rồi về cho anh biết tôi có mua được giá này hay không." Và hàng sách đem sách đến nhờ viện phụ Anastase định giá. Cha nói: "Tập sách này rất đẹp, nó đáng giá mười sáu đồng." Người hàng sách đi gặp người đệ tử và nói: "Tiền đây, tôi đã đi hỏi cha Anastase, cha cho hay tập sách này đáng giá như vậy." Người đệ tử hỏi: "Vậy cha có nói gì không? – Không, cha không nói gì hết – Này anh, tôi thay đổi ý kiến, tôi không bán tập sách này nữa."

Sau đó, anh chạy như bay đến viện phụ Anastase, vừa khóc vừa van xin cha nhận lại tập sách, nhưng cha từ chối và nói: "Con yên tâm, cha tặng con tập sách này." Nhưng người đệ tử van xin: "Nếu cha không nhận lại, con sẽ không bao giờ có bình an." Và người đệ tử ở lại bên cạnh cha Anastase suốt đời.

Chuyện thứ hai là chuyện Tha Nợ

Một người đệ tử hỏi một vị Tổ Phụ:

– Nếu có người anh em mượn con một ít tiền, con có đòi họ không?

Vị Tổ Phụ trả lời:

– Có, nhưng chỉ đòi một lần, và với lòng khiêm tốn.

Người anh em lại hỏi:

– Giả dụ con đòi nhưng họ không trả, con sẽ làm gì?

Vị Tổ Phụ trả lời:

– Con đừng nói gì với họ nữa.

– Nhưng nếu con không yên tâm khi chưa đòi lại được, con phải làm gì?

– Con quên điều đó đi. Điều quan trọng là con không được làm người anh em buồn, bởi vì con là một tu sĩ.

Tha thứ và đòi nợ kiểu này thì chỉ có bậc thánh mới làm được. Lạ nhỉ, khi mượn nợ thì thề sống thề chết sẽ trả nợ nhưng đến ngày đáo hạn phải trả thì trốn biệt. Đến mức mà cả gia đình ruột thịt cũng nên tránh không cho mượn để khỏi mất tình gia đình, thà bị mang tiếng keo kiệt!

*Còn có một giai thoại về dùng tiền và cho mượn tiền của nữ văn sĩ Pháp Françoise Sagan khá lý thú*

Jacques Jaubert: Người ta nói bà kiếm rất nhiều tiền nhờ bán sách. Tiền bạc đối với bà như thế nào? Bà ít thích những người bo bo giữ tiền, những người nổi tiếng lại kinh doanh các loại quán rượu.

Françoise Sagan: Tôi không nghĩ khi giàu mà mình không có một chút nào đó chai đá trong lòng. Những người cực kỳ giàu có mà tôi quen biết, đã có lúc họ đã phải từ chối cho mượn hoặc cho. Giàu có, là phải biết nói không. Những người giàu là những người phải cẩn thận. Cá nhân tôi, tôi không nói được về chuyện tiền bạc vì tôi chưa bao giờ bị đói, bị lạnh, bị thiếu tiền...

Jacques Jaubert.: Bà giàu sớm?

Françoise Sagan: Năm 19 tuổi, tôi nhận tiền nhuận bút quyển tiểu thuyết "Buồn ơi, chào mi" được 500 triệu quan cũ, ông René Juilliard giám đốc nhà xuất bản nói với tôi: "Cô chưa đến tuổi trưởng thành, tôi giữ số tiền này của cô ở đây, cô về hỏi ý kiến cha của cô, cô nên làm gì với số tiền này." Tôi về hỏi cha: "Thưa cha, con làm gì với tiền triệu này?" Cha tôi nhìn thẳng vào mặt tôi và hỏi: "Năm nay con bao nhiêu tuổi – mười chín – Ở tuổi này, có một số tiền lớn như thế này thì quá nguy hiểm. Con đem tiêu hết đi." Và tôi nghe lời ngay lập tức. Thật ra thì trước đó tôi cũng đã tiêu rất nhiều và tôi tiếp tục tiêu nhiều.

Jacques Jaubert.: Bà cho nhiều?

Françoise Sagan: Đúng, nếu người ta trả lại cho tôi những số tiền tôi đã tiêu cho họ thì tôi cũng sống thoải mái một thời gian. Một trong những người đầu tiên đến vay mượn tôi là nhà văn Arthur Adamov. Khi đó ông không còn một xu và túng bấn vô cùng. Ông hỏi mượn tôi 100.000 quan và tôi ký chi phiếu cho ông. Ông nói với tôi: "Tôi sẽ không bao giờ hoàn trả cho bà nhưng tôi không giận bà." Tôi quá sửng sốt. Ông luôn luôn dễ thương và cười với tôi. Và sau đó tôi hiểu rất ít người có đủ lòng quảng đại để trả lại tiền cho bạn.

tha nã 2

Tôi cũng quá sửng sốt vì tôi chưa bao giờ nghĩ phải có lòng quảng đại mới đi trả nợ. Nợ là một bổn phận phải trả, vì sao cần phải có lòng quảng đại mới trả được? Nhưng để hiểu giá trị đích thực của lòng quảng đại thì phải trải nghiệm sâu đậm thế nào là tính dủng dưng vô cảm và bà Françoise Sagan đã hiểu thế nào là tính dửng dưng vô cảm vì đã có những lúc bà tiêu tán tài sản cho những trận cười thâu đêm suốt sáng, nơi sòng bài, nơi ma tuý... nhưng có ai đủ lòng quảng đại để trả cho bà những số tiền bà đã tiêu cho họ?

Khi đọc câu chuyện Tha Nợ, nghĩ, ừ, thì chỉ có những ông già gàn ngày xưa mới tha nợ kiểu này, nhưng khi đọc nhận xét của bà Françoise Sagan thì tôi hiểu người xưa thâm thúy đến chừng nào, phải cần đến lòng quảng đại mới đi trả nợ được mà lòng quảng đại theo ngạn ngữ Ái Nhĩ Lan là đức tính bẩm sinh, theo họ tài làm thơ, tài ca hát và lòng quảng đại là ba chuyện không thể nào tập mà làm được! Vậy, không đòi nợ được thì cho đi để tâm hồn mình thanh thản và người kia khỏi buồn!

Dù sao, với những việc không thể nào tập mà làm được thì phải xin ơn, xin hát hay, xin làm thơ thì e khó xin nhưng xin có được tấm lòng quảng đại và tập để có được tấm lòng quảng đại thì hy vọng chắc được.

Đừng mất hy vọng tôi nhé !

Marta An Nguyễn chuyển dịch

(Nguồn: Phanxico-VN)

------------------------

 
CAM NGHIEM SONG LOI CHUA # DEM TINH YEU CHUA PDF Print E-mail

Đem tình yêu thánh tâm Chúa Giêsu
ĐẾN CHO NHỮNG NGƯỜI ĐAU KHỔ

1. Hằng ngày tôi đọc báo, xem truyền hình và có nhiều tiếp xúc. Nhờ vậy tôi được biết là hiện nay những người đau khổ chiếm một số đáng kể. Trên thế giới họ đang là một vấn đề lớn. Tại Việt Nam họ đang là một tiếng gọi khẩn thiết.

2. Rất may là vấn đề lớn đó cũng như tiếng gọi khẩn thiết đó đã và đang đánh thức được nhiều lương tâm. Bác ái từ thiện được khơi dậy và thực hiện đều khắp dưới nhiều hình thức. Nhà nước làm, tôn giáo làm, đoàn thể làm, cá nhân làm.

3. Nhưng những đau khổ cũ chưa tan, thì những đau khổ mới lại bùng lên. Cảnh đó làm tôi rất buồn. Nhờ đức tin, lòng tôi càng buồn, thì càng gần lại bên Chúa Giêsu.

4. Trong thinh lặng âu yếm, Chúa Giêsu dạy tôi hãy nhìn vào trái tim Người, một trái tim đã bị lưỡi đòng đâm thâu qua. Người nhắc lại cho tôi nhớ lời xưa Người đã nói: "Cha chính là mục tử nhân lành. Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên" (Ga 10,11). Trong giây lát, Người cho tôi hiểu: Dù làm việc thiện nào cho người đau khổ, tôi cũng hãy mang tình yêu của trái tim Chúa đến cho họ.

Tôi xin vâng. Nhưng, làm thế nào để mang tình yêu của Trái Tim Chúa đến cho người đau khổ trong mọi việc tôi làm cho họ?

5. Thú thực là để thực hiện điều đó, tôi luôn phải nhờ đến ơn Chúa.

Chúa ban ơn đó cho tôi, nhưng Người bảo tôi phải cầu nguyện, chiêm niệm. Như thể ơn Chúa ban là rất cao quý, tôi phải có chút phần nào cộng tác vào đó, bằng sự mở lòng tôi ra một cách khiêm nhường, nghèo khó. Tôi nhận mình hèn yếu, nhưng vững tin vào tình yêu của Trái Tim Chúa đã hy sinh vì tôi và vì mọi người.

6. Dần dần, khi cầu nguyện như thế, tình yêu Trái Tim Chúa đã đi vào lòng tôi. Tình yêu ấy như làm cho lòng tôi, dù đang nặng nỗi đau buồn, lại nở ra hoa, một thứ hoa có yêu thương và vui mừng. Đúng như lời Kinh Thánh nói: "Hoa trái của Thánh Thần là bác ái và niềm vui" (Gl 5,22).

7. Từ kinh nghiệm nội tâm trên đây, tôi có một cái nhìn riêng về tình yêu của Thánh Tâm Chúa Giêsu dành cho những người đau khổ. Tôi thấy tình yêu cao quý ấy có ba đặc điểm này: Yêu thương, hy sinh và vui vẻ phục vụ.

Với cái nhìn đó, tôi dễ nhận ra những ai đến với tôi mà thực sự mang tình yêu của Trái Tim Chúa đến cho tôi.

Với cái nhìn đó, tôi cũng dễ nhận ra khi tôi phục vụ, nhất là những người đau khổ, tôi có mang tình yêu của Thánh Tâm Chúa đến cho họ thực không?

8. Tình yêu của Thánh Tâm Chúa Giêsu có một dấu chỉ sống động và hùng hồn, đó là vết thương do bị lưỡi đòng đâm thâu qua. Với dấu chỉ đó, tôi hiểu thấm thía tình yêu luôn cần được minh chứng bằng hy sinh. Tình yêu không hy sinh là tình yêu giả. Hy sinh không yêu thương là yêu thương thừa. Yêu thương thực bao giờ cũng đẹp nhờ biết hy sinh.

9. Nếu tôi yêu thương đoàn chiên của tôi, nhất là những người đau khổ, thì yêu thương của tôi cần phải được minh chứng bằng một dấu chỉ chắc chắn, đó là hy sinh. "Tôi chính là mục tử nhân lành. Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình vì đoàn chiên" (Ga 10,11). Hy sinh, mà các mục tử đã và đang làm gương cho tôi, gồm rất nhiều thứ xảy ra thường ngày. Hy sinh về thân xác thì dễ thấy. Hy sinh trong tâm hồn thì khó thấy, nhưng lại rất nhiều.

10. Một trong những hy sinh trong tâm hồn, mà tôi học được nơi các ngài là sự tỉnh thức, khi làm từ thiện bác ái, phục vụ người đau khổ.

Tỉnh thức tránh sự phô trương. Các ngài nhớ lời Chúa phán: "Khi làm việc lành phúc đức, anh em phải coi chừng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy. Bằng không, anh em sẽ chẳng được Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, ban thưởng. Vậy, khi bố thí, đừng cho khua chiêng đáng trống, như bọn đạo đức giả thường biểu diễn trong hội đường và ngoài phố xá, cốt để người ta khen. Thật, Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi" (Mt 6,1-2).

Tỉnh thức tránh sự lừa dối. Các ngài luôn rất minh bạch về tiền của dâng cúng. Thái độ minh bạch của các ngài làm tôi nhớ lại chuyện ông Khanania và vợ là Xaphira xưa đã gian lận, lừa dối các tông đồ trong việc dâng cúng của cải, và họ đã bị Chúa phạt chết tươi (x. Cv 5,1-11).

Tỉnh thức tránh cho việc từ thiện khỏi bị lợi dụng để kết thành những nhóm lợi ích riêng (x. Ga 2,18-19).

Tỉnh thức tránh thiếu tế nhị trong việc làm từ thiện và phục vụ. Làm cho người đau khổ là làm cho chính Chúa Giêsu.

11. Dù tỉnh thức đến đâu, tôi vẫn thấy mình còn rất xa tình yêu của Trái Tim Chúa Giêsu, nên hằng ngày, hằng giờ, hằng phút, tôi chỉ biết kêu cầu Chúa một lời vắn tắt này: Lạy Chúa, xin thương xót con. Tôi kêu cầu với lòng tin tuyệt đối.

12. Rồi, dù như bị đóng đinh vào thánh giá là bệnh tật, già yếu, tôi vẫn ra đi, đến những người đau khổ bằng nhiều cách có thể.

13. Cho dù thân phận mong manh, tôi vẫn mang đến cho họ chút tình yêu của Trái Tim Chúa. Tôi yêu thương họ, tôi hy sinh cho họ, tôi vui lòng được phục vụ họ. Và như vậy, tôi sẽ là của lễ, hiệp cùng của lễ Chúa Giêsu dâng chính mình trên thánh giá xưa. Kết quả là sẽ góp phần vào công việc cứu độ những người đau khổ, mà Chúa Giêsu thực hiện.

14. Trên đây là một chia sẻ rất chân thành. Nếu đó là một chứng từ nói lên kinh nghiệm về tình yêu của Trái Tim Chúa nơi một con người hèn yếu như tôi, thì thiết nghĩ đây là một đóng góp vào Tin Mừng cho tình hình phức tạp tại Quê Hương Việt Nam yêu dấu hôm nay.

Nói lên kinh nghiệm về tình yêu Thánh Tâm Chúa, chứ không nói về lý thuyết, đó là điều tôi mạo muội làm. Xin Chúa thương nhận và ban phép lành cho những ai quan tâm đến kinh nghiệm nhỏ bé của tôi, và cầu nguyện cho tôi. Hy vọng như thế đang là một niềm vui giúp tôi càng tin vào tình yêu thương xót Chúa. Xin hết lòng tạ ơn Chúa.

Long Xuyên 4.6.2015
+ Gm. Gioan B Bùi Tuần
-------
VÒNG TAY SONG NGUYỀN
Thông tin nối kết phục vụ các gia đình
Chương Trình Thăng Tiến Hôn Nhân Gia Đình

---------------

 
CAM NGHIEM SONG LOI CHUA = KINH CHUA BA NGOI PDF Print E-mail

Tam Vị Nhất Thể

(Lễ Chúa Ba Ngôi, năm B )

Tam Vị Nhất Thể là Một Chúa Ba Ngôi, là Thiên Chúa "ba trong một". Trinity (Tam Vị Nhất Thể) có từ gốc Latin là "trinitas" – nghĩa là "ba" (triad), tiếng Hy Lạp tương đương là "triados". Mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm trung tâm của niềm tin Kitô giáo.

Tín điều Chúa Ba Ngôi được xác định trong hai giai đoạn: Tại Công đồng Nicê I (năm 325 sau công nguyên) và tại Công đồng Constantinope I (năm 381 sau công nguyên).

Từ khi sinh ra, trẻ em Công giáo được cha mẹ dạy bài học đầu tiên là làm Dấu Thánh Giá: "Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần". Ba5b được đóng dấu ấn thánh này khi lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy, và ấn tín này ghi đậm suốt cuộc đời .

Hằng ngày, chúng ta làm Dấu Thánh Giá rất nhiều lần: khi đi ngủ, khi thức dậy, khi tham dự Thánh lễ, khi cầu nguyện, khi ăn uống, khi ra đường,... Chúng ta dùng Dấu Thánh Giá để ca tụng và kêu xin Thiên Chúa mọi nơi và mọi lúc. Năm 211, trong cuốn The Chaplet (chuỗi hạt, tràng hạt), thần học gia Công giáo Tertullian nói về việc làm Dấu Thánh Giá như nhiệm vụ hằng ngày: "Trước khi di chuyển, đi xa hoặc đi đâu đó, khi mặc quần áo, khi tắm, khi ngồi vào bàn ăn, khi thắp đèn, hoặc khi làm bất kỳ hành động nào trong cuộc sống đời thường, chúng ta vẫn vẽ Dấu Thánh Giá trên trán".

Làm Dấu Thánh Giá không chỉ xin Ngài thánh hóa chúng ta và những gì chúng ta làm, mà đặc biệt là tôn vinh và tuyên xưng Một Chúa Ba Ngôi. Trong các giờ Phụng Vụ, chúng ta cũng nhiều lần xưng tụng Thiên Chúa Ba Ngôi: "Sáng danh Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần...".

Chính Thiên Chúa đã xác định: "Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là Đấng hiện có, đã có và đang đến, là Đấng Toàn Năng" (Kh 1:8). Ngài là Đầu và Cuối, là Khởi Nguyên và Tận Cùng (Kh 1:17; Kh 2:8; Kh 22:13). Ngài tuyên ngôn rạch ròi: "Ngươi KHÔNG ĐƯỢC có thần nào khác đối nghịch với Ta. Ngươi KHÔNG ĐƯỢC tạc tượng, vẽ hình bất cứ vật gì ở trên trời cao, cũng như dưới đất thấp, hoặc ở trong nước phía dưới mặt đất, để mà thờ. Ngươi KHÔNG ĐƯỢC phủ phục trước những thứ đó mà phụng thờ: vì Ta, Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, là một vị thần ghen tương. Đối với những kẻ ghét Ta, Ta phạt con cháu đến ba bốn đời vì tội lỗi của cha ông. Còn với những ai yêu mến Ta và giữ các mệnh lệnh của Ta, thì Ta trọn niềm nhân nghĩa đến ngàn đời" (Xh 20:3-6; x. Xh 34:14; Đnl 4:35; Đnl 4:39; Đnl 5:7; Đnl 32:39; Is 43:10; Is 44:8; Is 45:6; Is 46:9; Hs 13:4). Thiên Chúa Ba Ngôi, Đấng Tam Vị Nhất Thể, là Thiên Chúa duy nhất.

Trên núi Khô-rếp, Thiên Chúa đã mặc khải qua Mô-sê: "Anh em cứ hỏi những thời xa xưa, thời có trước anh em, từ ngày Thiên Chúa dựng nên con người trên mặt đất; cứ hỏi từ chân trời này đến chân trời kia: có bao giờ đã xảy ra chuyện vĩ đại như thế, hay có ai đã nghe điều giống như vậy chăng? Có dân nào đã được nghe tiếng Thiên Chúa phán từ trong đám lửa như anh em đã nghe, mà vẫn còn sống không? Hoặc có thần nào đã ra công đi chọn lấy cho mình một dân tộc từ giữa một dân tộc khác, đã dùng bao thử thách, dấu lạ, điềm thiêng và chinh chiến, đã dang cánh tay mạnh mẽ uy quyền, gây kinh hồn táng đởm, như Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đã làm cho anh em tại Ai-cập, trước mắt anh em không?" (Ðnl 4:32-34).

Và rồi Mô-sê tiếp tục cho dân chúng biết quyết định của Thiên Chúa: "Anh em phải biết và để tâm suy niệm điều này: trên trời cao cũng như dưới đất thấp, chính Đức Chúa là Thiên Chúa, chứ không có thần nào khác nữa. Anh em phải giữ các thánh chỉ và mệnh lệnh của Người, mà hôm nay tôi truyền cho anh em; như vậy anh em và con cháu anh em sau này sẽ được hạnh phúc, và anh em sẽ được sống lâu trên đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, vĩnh viễn ban cho anh em" (Ðnl 4:39-40).

Các mệnh lệnh rất rõ ràng, mãnh liệt, chắc chắn. Phàm điều gì đã là mệnh lệnh thì phải nghiêm túc thực hiện, không thể tùy ý, tùy hứng, dù biết rằng làm theo thì được thưởng. Thiên Chúa vui vẻ, thoải mái, nhưng nghiêm túc, dứt khoát, không nói đùa.

Tác giả Thánh Vịnh nhận xét: "Vì lời Chúa phán quả là ngay thẳng, mọi việc Chúa làm đều đáng cậy tin. Chúa yêu thích điều công minh chính trực, tình thương Chúa chan hoà mặt đất" (Tv 33:4-5). Quả thật, Thiên Chúa là Đấng hằng hữu, hằng sinh và toàn năng, "một lời Chúa phán làm ra chín tầng trời, một hơi Chúa thở tạo thành muôn tinh tú" (Tv 33:6). Thật kỳ diệu, Thiên Chúa chỉ phán một lời là "muôn loài xuất hiện", và Ngài ban lệnh truyền thì "tất cả được dựng nên" (Tv 33:9). Chắc chắn không có một chúa nào khác toàn năng như vậy, và cũng chẳng một thần linh nào có thể làm được như Thiên Chúa của chúng ta.

TÔI chỉ là tro bụi, là tội nhân, hoàn toàn bất xứng, nhưng chúng ta lại được gọi Thiên Chúa là Cha, nghĩa là chúng ta trở nên con cái Ngài. Thánh Phaolô dẫn chứng: "Quả vậy, phàm ai được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, đều là con cái Thiên Chúa" (Rm 8:14). Chúng ta đã và đang có Chúa Thánh ThầN, nghĩa là thực sự là con cái Thiên Chúa.

Thánh Phaolô cho biết thêm: "Phần anh em, anh em đã không lãnh nhận Thần Khí khiến anh em trở thành nô lệ và phải sợ sệt như xưa, nhưng là Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên: 'Áp-ba! Cha ơi!'. Chính Thần Khí chứng thực cho thần trí chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa. Vậy đã là con thì cũng là thừa kế, mà được Thiên Chúa cho thừa kế, tức là đồng thừa kế với Đức Kitô; vì một khi cùng chịu đau khổ với Người, chúng ta sẽ cùng được hưởng vinh quang với Người" (Rm 8:15-17).

Biết có những môn đệ vẫn bán tín bán nghi, nhưng chỉ là "chuyện nhỏ", Ngài quan tâm vấn đề quan trọng hơn, vì giờ G đã điểm, Ngài biết sắp đến giờ Ngài phải về cùng Cha rồi. Thật vậy, khi đó Ngài đến gần họ và nói: "Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế" (Mt 28:18-20).

Đó là trách nhiệm đầu tiên được trao cho các môn đệ, nhưng đồng thời cũng là trách nhiệm của bất kỳ ai mang danh là Kitô hữu: Loan báo Tin Mừng. Đặc biệt hơn, chúng ta đang sống trong chu kỳ năm Tân Phúc Âm Hóa (năm 2014: Phúc-Âm-hóa đời sống gia đình; năm 2015: Phúc-Âm-hóa đời sống giáo xứ và cộng đoàn; và năm 2016: Phúc-Âm-hóa đời sống xã hội).

Thế mà thật lạ, chỉ nhờ một cơn mưa nhỏ ở nơi khác, dù nơi chúng ta ở không mưa, nhưng thời tiết vẫn dịu hẳn xuống, và chúng ta khả dĩ cảm thấy dễ chịu ngay lập tức. Đơn giản như gió. Gió trời khác hẳn gió quạt điện, khác một trời một vực. Gió trời làm chúng ta dễ chịu vì có hơi nước tự nhiên, gió quạt điện chỉ là khua "không khí nóng", không thể làm chúng ta dễ chịu. Người ta còn có những cách "chữa lửa" bằng cách xịt hơi nước, nhưng cũng không thể làm giảm độ nóng, không thể làm chúng ta dễ chịu.

Vậy phải làm sao? Ai có thể làm được để chúng ta cầu cứu? Chắc chắn chỉ có Một Chúa Ba Ngôi làm được mọi thứ, ngay cả những điều mà con người đành thúc thủ, phải chịu "bó tay". Thật vậy, có lần Chúa Giêsu đã từng nhìn thẳng vào các môn đệ và nói: "Đối với loài người thì không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa thì mọi sự đều có thể được" (Mt 19:26).

Mừng kính và tôn vinh Một Chúa Ba Ngôi cũng là dịp chúng ta nhớ tới mối liên kết trong cây nho – thân nho và cành nho phải nối liền với nhau (Ga 15:1-17), và cũng nhắc chúng ta nhớ tới sự hiệp thông trong Nhiệm Thể Đức Kitô: Mọi người phải Nên Một (Ga 17:1-26). Đó là điều Chúa Giêsu ước muốn, và đó là mối liên kết của mọi chi thể, cũng là sự đoàn kết của mọi thành phần.

TRẦM THIÊN THU

Kỉnh chuyển:

Hồng

--------------------

 
<< Start < Prev 111 112 113 114 115 116 117 118 119 120 Next > End >>

Page 119 of 135