mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1005
mod_vvisit_counterHôm Qua9925
mod_vvisit_counterTuần Này39022
mod_vvisit_counterTuần Trước47282
mod_vvisit_counterTháng Này186021
mod_vvisit_counterTháng Trước231247
mod_vvisit_counterTất cả8223165

We have: 142 guests online
Your IP: 54.162.4.139
 , 
Today: Apr 29, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Cảm Nghiệm Sống Lời Chúa
CAM NGHIEM SONG LOI CHUA - THU TU- TUAN 6TN-A PDF Print E-mail

Thứ Tư Tuần Thứ 6 Mùa Thường niên, Năm A.

CẢM NGHIỆM SỐNG : Maccô 8: 22-26.
Anh có thấy gì không?.
Suy Niệm: Phó Tế Vĩnh Viễn Đôminicô Vũ Quang Minh.

Chuyện kể rằng: Một đêm kia, trong giấc mơ, Thiên Chúa cho biết Ngài sẽ đến thăm một bà khá đạo hạnh và Ngài hứa sẽ đến gặp bà nội hôm sau. Thế là hôm sau, bà chuẩn bị cửa nhà và dọn tiệc thịnh soạn chờ đón Ngài. Thế chờ đợi mãi mà vẫn không thấy Chúa đến, bà thiếp ngủ. Bỗng vẳng đến tai bà có tiếng nói:Tại sao Ta đến mà con không đón tiếp Ta."Bà thưa: con chờ Ngài ngay hàng cau trước cống nhà. Bà ngạc nhiên khi Chúa bảo bà là Ngài đã đến ở cửa sau.Thế là cả ngày hôm sau bà cũng vẫn bày tiệc thết đãi Chúa như hôm đầu. Ðêm đến, bà hết chạy ra cửa trước lại vào cửa sau, nhưng tuyệt nhiên vẫn không thấy Chúa. Lần này trong giấc mơ, Chúa lại hiện đến và trách người đàn bà. Ngài cho biết là Ngài đã đến qua cửa sổ. Ngài giải thích cho bà hiểu như sau: Nếu con chỉ muốn thấy Ta ở một nơi nào đó mà thôi, con sẽ không bao giờ có thể thấy Ta ở mọi nơi. Ta muốn cho con thấy Ta, nhưng không phải một lần trước khi con chết, mà là mỗi giây phút cuộc đời con. Và điều kiện để được thấy Ta là con hãy từ bỏ khát vọng được thấy Ta bằng con mắt xác thịt, vì nếu chỉ dùng con mắt trần gian để có thể nhìn thấy sự vô biên của Ta, thì con đã sai rồi. Con chỉ có thể xem thấy Ta bằng đôi mắt của trái tim khi tìm ta qua tha thể khác mà mà thôi.

Trang Phúc âm Maccô mô tả tính độc nhất vô nhị mà cả ba phúc âm còn lại không cho xem thấy ngay tính tức khắc chỉ có một lần như trường hợp mười người phong hủi được lành khi đang trên đường đi trình diện với tư tế. Ở đây, trái lại, trình thuật nhấn mạnh đến vẻ từ từ, tiệm tiến và hơi công phu của việc làm cho anh mù dược sáng mắt. Bước đầu, Chúa nhổ nước miếng vào mắt người mù và đặt tay trên anh. Rồi thì Chúa hỏi tình trạng mắt thế nào khi Ngài đang chữa. Khi anh trả lời câu Ngài hỏi, thì chính anh cũng đã khái chí của kẻ lần đầu được nhìn cảnh vật: "Tôi thấy người ta, trông họ như cây cối đi đi lại lại". Khi thấy cái nhìn của anh còn lờ mờ và không rõ nét, Chúa làm lại làm cử chỉ đặt tay trên mắt anh, tức thì anh được khỏi hẳn và trông rõ.

Như thế việc chữa lành nhãn quan cho anh xem ra không đơn giản, nếu không nói là khó trị lành lắm . Nhưng trọng tâm trình bày thể lý làm sáng mắt cho anh mù, là Tin mừng muốn chúng ta hiểu sang một lãnh vực siêu nhiên, là lãnh vực chữa trị nội tâm của một người, hay một nhóm người. Sự mở con mắt đức tin cho các môn đệ, và nay cho chúng ta là từng bước nhờ ơn Chúa mà có thể biết được việc làm của Thiên Chúa, và ơn cứu rỗi loài người. Điều này, nay các môn đệ tạm hiểu, để rồi sau khi Chúa Yêsu phục sinh, họ sẽ được Thánh Thần, Thần Minh Trí, khôn ngoan và đức độ, sẽ tiệm tiến vạch chỉ cho họ: Đâu là Nền Tân Ước mang tính nhân bản mà hình ảnh Thiên Chúa có sẵn trong con người có thể hiểu được.

"Anh có thấy gì không?"

Hôm nay Đức Giêsu cũng hỏi chúng ta như vậy. Hãy để tay Ngài nắm lấy tay ta mà dắt vào chỗ riêng tư kín đáo. Hãy để Ngài chạm đến sự mù lòa của ta để ta được sáng mắt, nhờ đó ta thấy được Ngài, thấy được sự thật về mình và về tha nhân. Nhưng ta cũng cần kiên nhẫn vì con đường giác ngộ là con đường dài. Chỉ mong hôm nay tôi sáng hơn hôm qua, và ngày mai hơn hôm nay mà thôi.

Cuộc hành trình tìm ánh sáng của anh mù, tương tự như cuộc hành trình tìm kiếm đức tin của các tông đồ và nhất là chúng ta thời nay. Cho nên việc xin Chúa Yêsu chỉ dạy và mạc khải để khỏi mù phần thiêng liêng là tối cần. Chúng ta hãy nguyện xin Chúa ban cho mình đức tin mỗi ngày để biết nhìn các dấu chỉ qua các bí tích với lòng tin, biết tin vào lời Chúa để chăm chú lắng nghe và mau mắn thi hành. Biết nhìn Giáo Hội hữu hình là thân thể mầu nhiệm Chúa Kitô, và ngoan ngoãn nghe lời giáo huấn của Giáo Hội với lòng mộ mến. Amen.

------------------------------

 
CAM NGHIEM SONG LOI CHUA- THU BA - TUNA 6TN -A PDF Print E-mail

Thứ ba Tuần 6 Thường niên.

CẢM NGHIỆM SỐNG LỜI CHÚA : Mc 8, 14-21.
Men Pharisiêu.
Suy Niệm: Phó Tế Vĩnh Viễn Đôminicô Vũ Quang Minh.

Từ hàng ngàn năm qua, người ta đã biết dùng men ủ vào bột, để bột dậy men và làm ra những ổ bánh mì thơm ngon. Cũng có những thứ men hữu ích khác để làm rượu, dấm, sữa chua, cơm rượu... Thế nhưng lại có những thứ men độc hại làm thức ăn hư thối, gây tật bệnh cho con người.

Khi ví Nước Trời như men trong bột, Chúa Yêsu dạy các môn đệ phải tạo loại men mang tên Tín Hữu Kitô, chứ không phải "men Pharisêu và men Hêrôđê", là thứ men kiêu căng giả hình, thứ men của lòng đam mê tiền của, thú vui và quyền lực; những thứ men đó làm cho con người ra hư hỏng. Các môn đệ vì còn nặng tinh thần thế tục với óc thực dụng, cứ mải lo lắng về tấm bánh vật chất nên không hiểu được lời giảng dạy của Chúa Yêsu. Biết các ông đang có nguy cơ tiêm nhiễm men độc hại nên Ngài cảnh báo: "Hãy coi chừng men Pharisêu và men Hêrôđê".

Thực sự, khi tìm về ý nghĩa Chữ Men trong Kinh Thánh thì nó được dùng với nhiều ý nghĩa:

Trước hết men có nghĩa là làm tăng trưởng. Men là một sức mạnh vô hình làm cho bột dậy men như trong dụ ngôn người đàn bà bỏ men và đấu bột làm bánh (Mt 13,33). Men có nghĩa là đổi mới như lời thánh Phaolô "Anh em hãy tẩy trừ men cũ để nên bột mới. Anh em là bánh không men." Men có một ý nghĩa xấu là làm hư hỏng như tôi đã trình bày ở trên. Nên hôm nay Chúa Yêsu chủ ý nói tới ở đây đượm ý nghĩa thâm thuý tiêu biểu cho Men ác.. Chính men tự nó đã là một chất tự hủy. Khi thành men, men lại hủy hoại chính tinh bột để có thể làm bánh. Cho nên men có nghĩa là một sức mạnh tiêu hủy đa số, như kiểu nói một con sâu làm rầu nồi canh. Cũng trong ý nghĩa này, mà tuần lễ vượt qua đã cấm dùng men. Maisen đã cấm dùng men trong những vật dùng trong việc phụng tự. Yacaria có nói đến bánh không men là thực phẩm nuôi dân trong những ngày mùa xuân. Trong ngày lễ vượt qua của người Do Thái, cũng phải dùng bánh không men. Dĩ nhiên ý nghĩa chính của nó là phải lên đường vội vã đến nỗi người ta không còn dịp chờ có ý nghĩa là bỏ đi sự suy đồi, bỏ đi kiếp nô lệ Ai Cập dù cho có nhớ đến thịt thà củ hành củ tỏi.

"Men Pha-ri-siêu, men Hê-rô-đê" ám chỉ sự giả hình và tự cao. Ý Chúa nói là phải xa lánh ảnh hưởng xấu của hai nhóm này vì từ "men" theo nghĩa xấu có nghĩa là làm hư hỏng.

Điều khôn ngoan nhất trong cuộc sống là tránh xa cái xấu, tránh xa dịp tội. Ta hãy cố gắng sống gần người tốt, sống trong môi trường tốt để chúng ta hấp thụ điều tốt. Bởi vì lời nói lung lay, gương bày li kéo.

Tin Mừng Marcô mô tả chuyện về việc Thầy trò vượt Biển hồ, mà hôm nay là lần cuối. Thầy trò vượt biển qua bờ bên kia, sau khi Thầy đã hóa bánh ra nhiều lần thứ hai (Mc 8, 1-10). Có một sự cố xảy ra khiến các môn đệ lo âu. Các ông quên mang bánh khi vượt biển nên lo là sẽ bị đói mà trên thuyền chỉ có một cái bánh duy nhất (c. 14). Chúa Yêsu khi nghe được trong bối cảnh này, thì không hiểu sao lại cảnh báo các ông về thứ men xấu làm hư hỏng con người (x. 1 Cr 5, 6-8), đó là thứ "men của người Pharisêu và men của người theo Hêrôđê (c. 15). Có lẽ vì cuộc đụng độ quyết liệt vừa qua khiến Ngài trăn trở sợ sau này các đệ tử biến chất, không thể làm ra bánh được, nên Ngài cảnh tỉnh các ông. Thế nhưng lời cảnh báo của Ngài trong bối cảnh này đã bị các môn đệ hiểu sai. Cứ theo văn mạch tin mừng kể thì các ông tưởng Thầy trách về chuyện họ không mang theo đủ bánh. Từ đó xảy ra một cuộc tranh cãi giữa họ với nhau về chuyện này.

Thầy chắc là giận lắm. Chưa khi nào chúng ta thấy Ngài đặt nhiều câu hỏi liên tiếp như hôm nay. Tùy lối chấm câu, có thể có từ sáu đến chín câu hỏi. Qua các câu hỏi, Ngài bày tỏ sự thất vọng về các môn đệ. Họ chậm hiểu, chậm nắm bắt; tim của họ bị chai (c. 17). Họ có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe (c. 18). Trí nhớ và lòng tin của họ khá kém, vì dù đã chứng kiến hai lần phép lạ bánh hóa nhiều, một lần, năm chiếc bánh cho năm ngàn người, lần khác, bảy chiếc bánh cho bốn ngàn người, họ vẫn lo âu khi thấy trong thuyền chỉ có một chiếc bánh dự trữ.

SUY TƯ VÀ QUYẾT TÂM ĐỔI MỚI : "Vậy mà anh em vẫn còn chưa hiểu sao?" (c. 21). Chúng ta cũng nghe Chúa hỏi câu hỏi này khi chúng ta xao xuyến âu lo trước những khó khăn của cuộc sống. Các môn đệ vượt biển mà không mang đủ lương thực cần dùng. Họ lo âu vì sợ lỡ ra có bão hay sự cố gì thì làm sao đây. Thực ra điều họ quên không phải là bánh, mà là quên Thầy Yêsu đang ở cùng thuyền với họ, là chủ nhân của những chiếc bánh sinh thêm. Còn chúng ta thì sao? Xin đừng như thái độ các tông đồ lúc đó.
Amen

----------------------------------------

 
CAM NGHIEM SONG LOI CHUA=THU HAI=CN6TN-A PDF Print E-mail

Thứ Hai tuần 6 Mùa Thường niên,.

CẢM NGHIỆM SỐNG LỜI CHÚA: Mc 8, 11-13.
Tìm một dấu lạ từ trời.
Suy Niệm: Phó Tế Vĩnh Viễn Đôminicô Vũ Quang Minh.

Một câu hỏi mà ít ai chịu tự hỏi là: làm sao chúng ta có thể nhìn, hay rút ra được những điều tốt lành, những điều hay lẽ thật, có khi hết sức là sâu sắc trong những cái bình thường, ở nơi chính cuộc sống bình thường của mình, có khi rất nho nhỏ mà Chúa vẫn làm cho chúng ta mỗi ngày.

Thực ra, lắm khi chúng ta vẫn đòi những điều lạ lùng hơn, lớn lao hơn từ may mắn, hay từ giáo hội, hoặc từ chính Chúa can thiệp qua phép lạ. Chúng ta khác nào người Biệt Phái, nghĩa là chẳng hề mãn nguyện khi nhìn lắm chuyện mà chính Chúa Yêsu can thiệp vào lòng lịch sử để thi ơn phúc cho dân nghèo, bị thần ô uế ám hại, hay tật bệnh nan y cần tìm thày thuốc. Chúng ta vẫn muốn thử Thiên Chúa, bởi lẽ chúng ta không tin Ngài. Cũng vậy, như người Biệt Phái, có khi nào tín hữu Chúa xin cho mình thấy được sự kỳ diệu của Tình Yêu nơi những điều tưởng như là tự nhiên của cuộc sống trong bao nhiêu việc bác ái xảy ra hằng ngày, nhờ các nữ tu, hay các nhà rao giảng tin mừng? Hay là chê rằng ông ấy chỉ là giáo dân, may mà có thêm chức phó tế nho nhỏ, chứ đâu có thể làm được chi là kỳ tích được?

Ai cũng dễ bị hấp dẫn bởi cái lạ thường, cái cao sang và đổ sô đi tìm nghe giảng mãi đâu đâu, trong khi Bụt nhà thì không thiêng, mà có nhiều Linh Mục ở quê nhà chẳng được welcome trong cái bình thường, mà lại đi tìm những cái khác thường, còn cái bình thường, như thường, thì ít hấp dẫn, lắm khi tẻ nhạt. Chỉ cần nghe đâu đó có hiện tượng khác thường là người ta đổ xô đến, lắm khi chẳng cần suy nghĩ để biết có thực không, có đáng tin không?

Các ông Biệt Phái, Ký Lục không phủ nhận chuyện Đức Yêsu đã thi ân nhiều phép màu và dấu lạ trước dân chúng, đến nỗi ngay trong giờ cuối cùng trước khi Chúa Yêsu tắt thở, các thượng tế cũng phải thốt ra lời độc ác nhìn nhận lẽ thật khi họ mắng tiếng: "Hắn đã cứu được người khác...nhưng không cứu được mình" (Mc 15, 31).

Quả thực trong ba năm truyền giảng, Những phép lạ mà Ngài thi ân không nhằm cho vinh quang của Ngài trong uy phong lẫm liệt. Chính Satan cũng ngạc nhiên vì những thử thách gợi ý Ngài dùng năng quyền tuyệt đỉnh để tỏ bày thần tính Thiên Chúa của Ngài. Nhưng chúng thất vọng và chờ cú chót là giờ tử biệt của Ngài. Chúng mượn miệng tư tế chưởng ấn Do-thái bảo:"Cứ xuống khỏi thập giá để chúng ta thấy và tin" (Mc 15, 32). Chúa Yêsu im lặng, và cái im lặng của thời khắc ấy Satan tưởng là chiến thắng hoàn toàn vì sẽ chôn vùi được Ông Yêsu. Chúng chỉ biết mình thực sự thua khi Chúa Phục Sinh về trời, ngự bên hữu Chúa Cha và chúng biết chúng là kẻ thua cuộc, nên ngày nay càng lúc trước khi dẫy chết, chúng làm rung rinh cả trái đất trong bạo loạn dấy lên từ lòng nhiều người theo chúng. Ma qủi không thể mua được niềm tin của đám đông bằng sự phản bội đức Kitô, và chúng cho dù có mua chuộc được các lãnh đạo tôn giáo Do-Thái thì Chúa Yêsu cũng đã không phản bội lại ý định của Đức Chúa Cha. Nên Ngài đã ở lại trên thập giá như một người xem ra thua cuộc trước cái cười chế diễu của họ.

Những thái độ trịch thượng dù ở thời đại nào, và dù ở đâu đi nữa, cũng đều là những thái độ bất tín và tự cao, nên có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe được, có mũi mà chẳng thể ngửi ra mùi thánh thiện nơi Thiên Chúa, thì làm sao có thể nếm được sự diụ ngọt trong cái tần thường của một Thiên Chúa mà lại giống y một phàm nhân.

TÔI CẦU NGUYỆN VÀ SỐNG CẦU NGUYỆN : Xin cho chúng con biết Chúa, Đấng không thích những thái độ chỉ biết đi tìm cái cũ vá víu vào cái mới cho tính ích kỷ tự cao tự đại, nhưng là biết những cái mới trong những con người tầm thường, trong những cái xem ra rất tầm thường, nhưng những cái tầm thường, những con người tầm thường lại là cái, và là người Chúa muốn chúng con trở nên. Amen.

------------------------

 
CAM NGHIEM SONG LOI CHUA- THU HAI TUAN6TN-A PDF Print E-mail

 Thứ Hai Tuần VI TN 13-2-2017

Suy niệm

"Điềm lạ trên trời" - "Tại sao ngươi căm tức, tại sao ngươi sụ mặt như thế?"

Theo truyền thống và văn hóa của dân tộc mình thì trong khi người Hy Lạp (tiêu biểu cho một Âu Châu cổ xưa thiên về lý trí và khoa học) chủ trương triết lý liên quan đến lý lẽ - phải có lý mới đáng tin, thì người Do Thái (tiêu biểu cho một Á Châu đạo hạnh thiên về cảm tình và thần thiêng) chủ trương thần học liên quan đến mạc khải - phải liên quan đến thần linh mới đáng tin.

Đó là lý do chúng ta thấy trong khi Âu Châu thiên về khoa học thực nghiệm liên quan đến tính toán và định luật thì Á Châu thiên về đạo lý, ở chỗ có rất nhiều tôn giáo, hay nói đúng hơn, tất cả mọi thứ đạo lớn nổi tiếng trên thế giới này đều xuất phát từ Á Châu: Ấn giáo và Phật giáo từ Ấn Độ, Khổng giáo và Lão giáo từ Trung Hoa, Nhật giáo từ Nhật Bản, Do Thái giáo và Kitô giáo từ Do Thái, Hồi giáo từ thế giới Ả Rập. Và đó cũng là lý do chúng ta thấy nơi đạo giáo của họ chất chứa tính chất thần linh và mạc khải (như Thiên Chúa giáo bao gồm Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo), hay tính chất mê tín dị đoan cũng chất chứa những gì là thần linh nhưng do lòng mê tín của họ hơn là mạc khải...

Bởi thế chúng ta không lạ gì người Do Thái trong bài Phúc Âm hôm nay xin Chúa Giêsu tỏ cho họ thấy điềm lạ như lòng họ mong muốn đúng như ý nghĩ của họ để nhờ đó, căn cứ vào đó, họ tin vào Người: "Các người biệt phái xuất hiện và bắt đầu tranh luận với Chúa Giêsu. Họ xin Người một điềm lạ trên trời để thử Người".

Tuy điềm lạ liên quan đến Đấng mạc khải thần linh và đáng tin nhưng có nguy cơ trở thành ngẫu tượng, tức trở thành một thứ mê tín dị đoan cao cấp siêu đẳng. Bởi vì con người nói chung và dân Do Thái nói riêng muốn có được một cái gì đó vững chắc để tin, như các dấu lạ hay điềm lạ, những gì họ không thể tự mình làm được và hoàn toàn vượt trên họ, chứng tỏ quyền lực thần linh ở giữa họ.

Nhưng cái nguy cơ là ở chỗ điềm thiêng dấu lạ mà họ muốn thấy ấy có hợp với ý muốn hay ý nghĩ của họ hay chăng, tức là có đúng với đòi hỏi chủ quan của họ hay chăng thì họ mới tin, bằng không họ vẫn không tin, như trường hợp họ đã phủ nhận sự lạ Chúa Giêsu trừ quỉ vậy (xem Mathêu 12:22-24). Tức họ phải chính là chúa tạo nên các vị chúa của họ và như họ, chứ không phải chính "Thiên Chúa là thần linh" (Gioan 4:24) tự tỏ mình ra cho họ đúng như Ngài là.

Thế nên, Thánh ký Marcô đã cho chúng ta biết phản ứng của Chúa Kitô trước thành phần xin Người làm một điềm lạ nào đó để nhờ đó họ tin vào Người rằng: "Người thở dài mà nói: 'Tại sao thế hệ này lại xin điềm lạ? Quả thật, Ta bảo các ông hay: Sẽ chẳng cho thế hệ này điềm lạ nào'. Rồi bỏ họ đó, Người lại xuống thuyền sang bờ bên kia".

Đúng vậy, chính vì tinh thần vốn tôn thờ ngẫu tượng của họ như cha ông của họ xưa mà Người "sẽ chẳng cho thế hệ này điềm lạ nào", không phải vì Người không chịu làm hay không muốn làm, hoặc không làm được, trái lại, Người vẫn tiếp tục làm để tỏ mình ra cho chung dân chúng cũng như cho riêng họ, dù Người "bỏ họ đó", nhưng "lại xuống thuyền sang bờ bên kia" để tiếp tục sứ vụ và vai trò Thiên Sai Cứu Thế của mình.

Chính bản thân Người và các phép lạ Người làm tự bản chất đều là điềm thiêng dấu lạ, nhất là đối với những tâm hồn đơn sơ cởi mở chân thành luôn khao khát và tìm kiếm chân lý thần linh, nhưng đối với thành phần tôn thờ ngẫu tượng như thành phần duy luật giả hình biệt phái và luật sĩ Do Thái nói chung chỉ tìm kiếm bản thân mình hay những gì hợp với mình, thì hoàn toàn không phải, chính vì thế mà, ở một nghĩa nào đó, Người đã dứt khoát "sẽ chẳng cho thế hệ này điềm lạ nào", hay nói đúng hơn, họ sẽ chẳng thấy một điềm lạ nào nơi Người và từ Người... "cho đến khi các ngươi treo Con Người lên" (Gioan 8:28), tức cho đến khi họ thấy được "điềm lạ tiên tri Giona" (Mathêu 12:39) là điềm lạ liên quan đến cuộc Vượt Qua của Người.

Hai nhân vật tiêu biểu được Sách Khởi Nguyên trong Bài Đọc 1 hôm nay là hai nhân vật có thể nói tiêu biểu cho hai thái độ đối với thần linh: thái độ hướng thượng là Thiên Chúa tối cao và thái độ hướng nội hay hướng hạ là chính bản thân mình, là chính con người mình, đó là hai anh em của nguyên tổ loài người là Cain và Abel.

Trong khi Abel hướng thượng là Thiên Chúa tối cao: "Abel cũng bắt các con vật đầu đàn và lấy mỡ mà dâng lên cho Chúa. Chúa đoái nhìn đến Abel và của lễ ông dâng", thì Cain vì hướng nội về bản thân mình là tạo vật hèn hạ nên cũng chẳng khác gì hướng hạ nên "Cain và của lễ của ông, thì Chúa không nhìn đến".

Và chính vì hướng hạ như vậy, không hoàn toàn kính sợ Chúa như Abel em mình, mà "Cain quá căm tức và sụ mặt xuống", nên chính Thiên Chúa đã vạch cho người anh này thấy tại sao Ngài không nhận của lễ của hắn bởi tinh thần hướng hạ của hắn như sau: "Tại sao ngươi căm tức, tại sao ngươi sụ mặt như thế? Nếu ngươi làm lành, sao ngươi không ngẩng mặt lên (ở đây Thiên Chúa đã rõ ràng cho thấy tính cách hướng hạ của Cain!); còn nếu ngươi làm dữ, thì tội đã kề ở cửa ngươi. Lòng ganh tị thúc đẩy ngươi, ngươi phải chế ngự nó".

Thế nhưng, cho dù "lòng ganh tị thúc đẩy" Cain thật sự đã "xông vào giết Abel em mình", thậm chí khi bị Thiên Chúa hạch hỏi thì còn chối bỏ những gì xấu xa của mình: "Tôi đâu có biết! Tôi có phải là người giữ em tôi đâu?", Lòng Thương Xót Chúa vẫn không bỏ rơi con người lầm lạc mù quáng này, trái lại, vẫn còn tiếp tục bảo vệ hắn và tỏ mình ra cho hắn, vì hắn dù sao vẫn là một con người, một con người đáng thương hơn cả nạn nhân em hắn nữa:

"'Tội ác tôi quá nặng nề, đâu tôi còn đáng tha thứ. Hôm nay Chúa đuổi tôi ra khỏi mặt đất, tôi sẽ ẩn trốn khỏi mặt Chúa và tôi sẽ đi lang thang trên mặt đất, nhưng ai gặp tôi, sẽ giết tôi'. Chúa bảo: 'Không có vậy đâu, hễ ai giết Cain, thì sẽ bị phạt gấp bảy lần'. Rồi Chúa ghi trên Cain một dấu, để ai gặp hắn, sẽ không giết hắn".

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

------------------------------------

 
CAM NGHIEM SONG LOI CHUA- CN6TN-A PDF Print E-mail

Chúa Nhật thứ VI Mùa thường niên năm A. 2017.

CẢM NGHIỆM SỐNG TIN MỪNG Mt 5: 17-37
Kỷ luật nội tâm. Chúa Phán; "Hễ 'có' thì phải nói 'có', 'không' thì phải nói 'không, thêm thắt điều gì là do ác quỷ'. Mt 5,37..

Thuyết Giảng : Phó Tế Vĩnh Viễn Đôminicô Vũ Quang Minh.

Dietrich Bonhoeffer bảo rằng: "Bạn được mời gọi để rời bỏ cái lươn lẹo, mà phó thác lời nói thật nơi con tim chân chính. Tín Hữu Kitô được mời gọi bước ra khỏi nơi tương đối an toàn của mình, để đi vào một cuộc sống khá bất ổn... ra khỏi lĩnh vực của sự hữu hạn... đem khả năng hữu hạn gieo vào cõi chân tín vô hạn."

Vậy Khả năng vô hạn phải chăng chỉ có Thiên Chúa mới cung ứng đủ cho tín hữu Chúa? Thưa vâng, Câu 11 Thánh vịnh 85 mô tả hữu lý: "Tín nghĩa ân tình nay hội ngộ, hoà bình công lý đã giao duyên". Tín nghĩa ở đây, tiếng Latinh là veritas. Nhóm Phụng Vụ các giờ kinh hay dịch veritas là tín nghĩa. Chúa Yêsu đã nói: "Hễ 'có' thì phải nói 'có', 'không' thì phải nói 'không'. Thêm thắt điều gì là do ác quỷ" (Mt 5,37).

Tin mừng Matthêu hôm nay mô tả Chúa Yêsu công bố tính chân chính của lẽ phải trong đời sống con cái của Ngài chính là Ngôn Hành thì phải hợp nhất, đừng biến có thành không, và rồi lươn lẹo, ảo thuật chữ Không thành chữ Có. Kết quả Thiên Chúa phạt tội gian dối rất nặng là nước trời họ chẳng thể vào được y như các kinh sư và hạng biệt phái mà thôi.

Nhìn lại Sáng Thế Thư ta sẽ rõ về tội gian dối đổ thừa cho nhau trong Cựu Ước qua việc ăn trái táo cấm.Thiên Chúa đuổi hai Ông Bà Nguyên Tổ ra khỏi Vườn Địa Đàng: "Đức Chúa là Thiên Chúa, đuổi con người ra khỏi vườn Êđen để cày cấy đất đai, từ đó con người đã được lấy ra. Người trục xuất con người, và ở phía đông vườn Êđen, Người đặt các thần hộ giá với lưỡi gươm sáng loé, để canh giữ đường đến cây trường sinh." (St 3,23-24b).

Thiên Chúa phạt Cain: "Đức Chúa phán với Cain: "Aben em ngươi đâu rồi?" Cain thưa: "Con không biết. Con là người giữ em con hay sao?" Đức Chúa phán: "Ngươi đã làm gì em ngươi vậy? Từ dưới đất, tiếng máu của em ngươi đang kêu lên tới Ta! Giờ đây, ngươi bị nguyền rủa bởi chính Đất đã từng há miệng hút lấy máu em ngươi, do tay ngươi đổ ra. Ngươi có canh tác đất đai, nó cũng không còn cho ngươi hoa màu của nó nữa. Ngươi sẽ lang thang phiêu bạt trên mặt đất."(St 4,9-12).

Người đời thường sống gian dối: trong lời nói, họ dễ dàng nói những lời để chữa lỗi cho mình hoặc cho kẻ khác; trong hành động, họ dễ dàng có những thái độ giả hình, giả bộ làm sáng danh Chúa, nhưng kỳ thực là chiêu dụ người khác, mù quáng cao rao tôn vinh danh mình, đánh bóng mình bằng tiền tài vật chất nơi cửa sau. Thật sự trong đời sống xã hội có khối những kẻ tạo được cái tin từ miệng những kẻ gian dối hay nói láo, nhưng kết thúc thì cho dù có nổi tiếng mấy mặc lòng trong cách nói láo, thì gian dối vẫn mãi là kẻ dối gian. Tuy có thể được Vua hay ai đó tha mạng như câu chuyên sau đây, nhưng nó vẫn chỉ là câu chuyện xoàng xĩnh cho người đời cười khuẩy mỉa mai mà thôi.

Chuyện kể rằng: Có một anh hay lẻo mồm nói láo. Những chuyện anh ta bịa ra khéo đến nỗi nhiều người dù biết tính anh ta, vậy mà vẫn mắc lừa Tiếng đồn lan khắp vùng rồi đến tai quan. Quan đòi anh ta đến, chỉ vào chồng tiền và một cây roi to tướng để trên bàn rồi bảo: Mi lừa nhiều người. Giỏi lắm! Vậy bây giờ thử: nếu lừa được ta, ta thưởng ba mươi quan; không thì "ăn" ba mươi cây roi mây kia. Anh nói láo gãi đầu gãi tai, bẩm: Lạy quan lớn! Bấy lâu nay con mắc tiếng oan, con có nói láo lừa ai đâu! Chẳng qua con có ông tằng tổ đời xưa đi Sứ bên Tàu, đem về được bộ sách nói toàn chuyện lạ, con xem thấy hay hay, đem kể lại, nhưng chẳng ai tin, cứ bảo rằng con nói láo... Quan trố mắt, bảo: Thế à? Vậy mau về mang bộ sách ấy đến ta xem thử! Trăm lạy quan lớn... Ngài xá tội! Con làm gì có bộ sách ấy đâu! Con nói láo đấy ạ!

Truyện trên dạy ta: người nói láo rất khéo miệng như có bằng cấp vậy. Tật nói láo tràn lan mọi nơi mọi lúc. Thiên hạ mất ý thức về tội nói láo. Khéo nói ở chỗ: người nói láo: "có duyên ăn nói": khéo dụng từ, dựng câu, tạo lực cho lời nói bằng văn vẻ, gãy gọn và ý tứ . Họ giỏi dựng chuyện, giảo hoạt tạo niềm tin. Những người nói láo đều giống nhau những điểm đó, tuy khác nhau ở mức độ. Thực sự "văn hóa nói láo đẻ thêm "văn hóa hiểu ngầm" để ai biết thì sống.

Chúa Yêsu không chấp nhận bất cứ một luật trừ trong giới răn này: "Có thì nói có, không thì nói không, thêm thắt điều gì là do ma quỉ mà ra". Nền tảng của giới răn này chính là phẩm giá của con người. Con người là hình ảnh của Thiên Chúa, mà Thiên Chúa là Ðấng chân thật, cho nên thuộc tính cơ bản nhất của con người cũng phải là chân thật. Thiên Chúa phán một lời liền có trời đất muôn vật, không có quãng cách giữa lời và hành động của Thiên Chúa. Người tôn trọng phẩm giá cao cả của minh đương nhiên cũng là người tôn trọng lời nói của mình, đó là đòi hỏi của bất cứ nền luân lý đạo đức nào.

Vì vậy Chúa Yêsu cảnh cáo: "Do lời nói người này được tha bổng; cũng do lời nói, người kia bị luận phạt".(Mt 12:35-37). Xem như thế thực sự không có loại nói láo nào là tốt cả, vì không có tội nào trước mặt Chúa được cho là tốt cả., vì tất cả tội nói láo là do ma qủi. Amen

-------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 8 of 65